TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 91/2025/HSST Ngày: 03-3-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Triều
2/ Bà Lê Thị Xuân Lang
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Trung Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 1069/2024/TLST-HS, ngày 30/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 314/2025/QĐXXST-HS ngày 11/02/2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đức T; giới tính: Nam; sinh ngày 12/3/1990, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: F H, Khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: 279 G, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959 và bà Trần Thanh P, sinh năm 1958; gia đình bị cáo có 03 anh, chị, em, bị cáo là con út; bị cáo đã ly hôn với vợ là Trần Thị Đ, sinh năm 1991 và có 01 người con sinh năm 2013; tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 14/8/2024, Công an Thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6470/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn”, “Tàng trữ trái phép chi tiết súng săn” và “Tàng trữ trái phép pháo” với tổng mức phạt tiền là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/01/2024 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Đức T: Bà Nguyễn Ngọc T2, Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Hồ Trung H, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
2. Phan Thị Hồng N; giới tính: Nữ; sinh ngày 24/12/1994, tại tỉnh Trà Vinh; hộ khẩu thường trú: 5/3/1 Đường B, Khu phố D, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: 279 G, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: không; con ông Phan Văn S, sinh năm 1965 và bà Dương Thị P1, sinh năm 1970 ; gia đinh bị cáo 02 anh em, bị cáo là con út; bị cáo có chồng là Trần Thanh H1, sinh năm 1994 và có 03 người con (con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/01/2024 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Phan Thị Hồng N: Ông Nguyễn Trung C, Luật sư Công ty L, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
3. Lê Thị Ngọc H2, (tên gọi khác là S1); giới tính: Nữ; sinh ngày 17/11/1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Tổ H, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: 279 G, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 5/12;nghề nghiệp: không; con ông Lê Văn C1, sinh năm 1965 và bà Huỳnh Thị Ngọc H3, sinh năm 1972; gia đình bị cáo có 03 anh, chị, em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo sống chung như vợ, chồng với Lê Trường H4, sinh năm 1993 và có 03 người con (con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/01/2024 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
· Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Ngọc H2: Ông Huỳnh Đức T3, Luật sư Công ty L, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
4. Trần Quang V; giới tính: Nam; sinh ngày 10/10/1995, tại tỉnh Nghệ An; hộ khẩu thường trú: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An; chỗ ở trước khi bị bắt: 279 G, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh;tôn giáo: Thiên chúa; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; con ông Trần Quang C2 (đã chết) và bà Huỳnh Thị P2, sinh năm 1960 ; gia đình bị cáo 04 anh, chị, em, bị cao là con thứ ba; bị cáo sống chung như vợ, chồng với Trương Thị N1, sinh năm 1996 và có 02 người con (con lớn, sinh năm 2016 và con nhỏ, sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/01/2024 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trần Quang V: Ông Nguyễn Trung C, Luật sư Công ty L, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
5. Trương Thanh T4; giới tính: Nam; sinh ngày 02/10/1999, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 7 Ấp F, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh ; chỗ ở trước khi bị bắt: F Đường số D, Khu phố C, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam;dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: không; con ông Trương Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1981; gia đình bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/01/2024 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
6. Nguyễn Thanh T5;giới tính: Nam; sinh ngày 10/3/1981, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: F Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh ; chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ 1, khu phố M, xã C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam;dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn H5 (đã chết) và bà Phạm Thị G, sinh năm 1962 ; gia đình bị cáo có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con; tiền sự: không;
Tiền án: Theo Bản án sơ thẩm số 31/2015/HSST ngày 24/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và theo Bản án sơ thẩm số 34/2015/HSST ngày 03/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt 07 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tồng hợp hình phạt chung của hai bản án thì bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là 08 năm, đến ngày 16/10/2021 thì chấp hành xong hình phạt tù và đã đóng đầy đủ các khoản tiền án phí.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/01/2024 tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Trần Thị Đ - sinh năm 1991,
Trú tại: Số F, khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
2/ Nguyễn Ngọc T6, sinh năm 2002,
Hộ khẩu thường trú: 1/1 tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Trú tại: F đường số D, khu phố C, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa)
3/ Phạm Thị G, sinh năm 1962,
Trú tại: D, khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
4/ Võ Thu N2, sinh năm 1967,
Trú tại: B N, ấp B, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 50 phút, ngày 25/01/2024, Tổ tuần tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến trước nhà số D N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện Nguyễn Thanh T5 đang điều khiển xe máy hiệu Honda Vision biển số 59C1 - 181.65 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra và phát hiện bắt quả tang T5 đang cất giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu nên đưa về trụ sở Công an Phường 18, Quận D để xử lý.
Tại Bản Kết luận giám định số 1956/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: “Tinh thể rắn không màu trong gói nylon nêu trên là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2604g (không phẩy hai sáu không bốn gam), loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T5 khai nhận mua số ma túy này của Lê Thị Ngọc H2 tại trước nhà số B N, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng.
Lúc 01 giờ 10 phút ngày 26/01/2024, Công an Q phối hợp Công an Q, Quận D bắt quả tang Lê Thị Ngọc H2 cất giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu tại trước nhà số A lô A chung cư T, Phường D, Quận D.
Tại Bản Kết luận giám định số 2217/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: “Tinh thể rắn không màu trong gói nylon nêu trên là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5511g (không phẩy năm năm một một gam), loại Methamphetamine”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Lê Thị Ngọc H2 khai nhận cùng với bạn trai là Trần Quang V phụ giúp cho Nguyễn Đức T và Phan Thị Hồng N bán ma túy để hưởng tiền công.
Lúc 10 giờ 40 phút ngày 26/01/2024, Công an Q phối hợp cùng Công an phường P, Quận G bắt quả tang Trương Thanh T4 đang cất giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu tại trước nhà số C Đ, phường P, Quận G.
Tại Bản Kết luận giám định số 1957/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: “Tinh thể rắn không màu trong gói nylon nêu trên là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7729g (không phẩy bảy bảy hai chín
gam), loại Methamphetamine”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Trương Thanh T4 khai nhận số ma túy này là do Nguyễn Đức T và Phan Thị Hồng N giao cho T4 để bán.
Ngày 29/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã thi hành Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N và Trần Quang V. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V và Trương Thanh T4 khai nhận:
Năm 2023, Nguyễn Đức T và Phan Thị Hồng N có quan hệ tình cảm và sống chung như vợ chồng. Do cần tiền tiêu xài nên khoảng giữa năm 2023, thông qua mối quan hệ xã hội, T biết đối tượng H5 (chưa rõ lai lịch) có bán ma túy đá nên T mua ma túy đá của H5 bằng tiền mặt. Sau khi có ma túy, T và N phân nhỏ ra để bán. Sau đó, Lê Thị Ngọc H2 (là bạn của N) biết T và N bán ma túy nên đã xin phụ giúp T và N bán ma túy để hưởng tiền công. Tháng 12/2023, T và N thuê căn nhà số B G, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để ở cùng H2 và V. Thời gian đầu, khi có người cần mua ma túy điện thoại cho T, N thì T, N đưa ma túy cho H2, V đi giao ma túy cho người mua ma túy thu tiền và trả công 10% trong số tiền ma túy bán được. Sau một thời gian, T, N giao ma túy cho H2, V để H2, V tự tìm người để bán để hưởng tiền công. H2, V đã phụ giúp T, N bán ma túy nhiều lần (H2 không nhớ cụ thể số lần bán, V khai nhận bán khoàng 02 đến 03 lần). Còn Trương Thanh T4 là bạn bè ngoài xã hội với T, thường tới nhà của T và N để chơi và được T nhờ đi giao ma túy khoảng 03 lần. T4 không nhớ cụ thể từng lần giao ma túy do thực hiện theo yêu cầu của T.
Ngày 25/01/2024, H2 bán ma túy cho Nguyễn Thanh T5 với số tiền 600.000 đồng tại trước nhà số B N, phường P, Quận G. Đến tối cùng ngày, V giao cho H2 túi vải chứa 30 gói ma túy đá để H2 bán. Sáng ngày 26/01/2024, H2 lấy 01 gói ma túy để đi tìm người để bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, số ma túy còn lại H2 cất giấu trong nhà số B G, phường P, Quận G đã bị thu giữ trong quá trình khám xét.
Ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2 và Trần Quang V tại số B G, phường P, Quận G, thu giữ: 01 túi vải màu xanh bên trong có 29 (Hai mươi chín) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu M1); 01 túi nylon bên trong có 170 (Một trăm bảy mươi) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu M2); 01 gói nylon bên trong có 05 (Năm) gói nylon, mỗi gói chứa 01 (Một) viên nén màu hồng (ký hiệu M3); 01 gói nylon bên trong có 05 (Năm) gói nylon, mỗi gói chứa 01 (Một) viên nén màu xanh (ký hiệu M4); 01 gói nylon chứa 02 mảnh viên nén màu xanh (ký hiệu M5); 01 (Một) gói nylon bên trong có 03 (Ba) gói nylon, mỗi gói chứa 01 viên nén màu xám (ký hiệu M6); 01 gói nylon bên trong có 01 (Một) gói nylon chứa 01 (Một) viên nén màu nâu (ký hiệu M7) và 01 (Một) gói nylon chứa nhiều mảnh viên nén màu nâu (ký hiệu M8); 01 gói nylon bên
trong có 06 (Sáu) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu M9) và 01 gói nylon chứa bột màu trắng (ký hiệu M10).
Tại Bản Kết luận giám định số 1958/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu M1 là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 7,3649g (bảy phẩy ba sáu bốn chín gam), loại Methamphetamine; Tinh thể không màu được ký hiệu M2 là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 69,00g (sáu mươi chín gam), loại Methamphetamine; 05 viên nén màu hồng được ký hiệu M3 có tổng khối lượng 2,0891g (hai phẩy không tám chín một gam), không tìm thấy ma túy; 05 viên nén màu xanh được ký hiệu M4 có tổng khối lượng 2,1599g (hai phẩy một năm chín chín gam), không tìm thấy ma túy; 02 mảnh vụn viên nén màu xanh được ký hiệu M5 đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,4028g (không phẩy bốn không hai tám gam), loại Ketamine; 03 viên nén màu xám được ký hiệu M6 đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,9347g (không phẩy chín ba bốn bảy gam), loại MDMA; 01 viên nén màu nâu được ký hiệu M7 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4738g (không phẩy bốn bảy ba tám gam), loại Methamphetamine, MDMA; Các mảnh vụn viên nén màu nâu được ký hiệu M8 đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,4622g (một phẩy bốn sáu hai hai gam), loại Methamphetamine, MDMA; Tinh thể không màu được ký hiệu M9 đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,1887g (bốn phẩy một tám tám bảy gam), loại Ketamine; Bột màu trắng được ký hiệu mẫu M10 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1118g (không phẩy một một một tám gam), loại Methamphetamine."
Ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiến hành khám xét khẩn cấp tại số B G, phường P, Quận G, ngoài việc thu giữ ma túy còn thu giữ của Nguyễn Đức T: 01 khẩu súng hơi dài 90 cm, 01 (Một) hộp kim loại chứa nhiều viên đạn chì; 01 khối hình hộp vuông có ghi chữ “Chong Kol C0850” nghi vấn là pháo; 01 xe gắn máy hiệu Suzuki biển số 59S1-263.66 và giấy Chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 181349 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp cho xe gắn máy nêu trên.
Tại Bản Kết luận giám định số 2063/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận : “+ Khẩu súng hơi dài 90cm không phải là vũ khí quân dụng, là súng hơi sử dụng khí nén, bắn đạn chì cỡ 5,5 mm, súng còn sử dụng được, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn.
+ 70 viên đạn chì thu giữ trong 01 (Một) hộp kim loại là đạn thuộc nhóm súng săn, sử dụng làm đạn cho khẩu súng hơi nêu trên.”
Tại Bản Kết luận giám định số 537/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận : “+ 01 khối hộp hình vuông có ghi chữ “Chong Kol C0850” là pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối tượng là 1,76 kg.”
Tại Bản Kết luận giám định số 9773/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Phòng
K Công an Thành phố H, kết luận: “Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 181349, đứng tên chủ xe Hoàng Ngọc M1, biển số đăng ký 59S1-263.66, đề ngày 09 tháng 10 năm 2018 là giả.”
Quá trình mua bán trái phép chất ma túy đến khi bị phát hiện, T thu lợi số tiền khoảng 100.000.000 đồng và trả công cho H2 khoảng 36.000.000 đồng. N sống chung với T như vợ chồng, V sống chung với H2 như vợ chồng nên T không trả công cho N và V. Đối với Trương Thanh T4, T không trả tiền công mà lo chi phí ăn uống và cho T4 tiền đổ xăng
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V, Trương Thanh T4 và Nguyễn Thanh T5 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tang vật thu giữ.
Trong quá trình điều tra, gia đình Nguyễn Đức T đã nộp số tiền 100.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Đức T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã gửi số tiền trên tại Kho bạc Nhà nước Q1.
* Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ khi khám xét khẩn cấp nhà số B G, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh gồm:
- 01 (Một) túi vải màu xanh bên trong có 29 (Hai mươi chín) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu M1); 01 (Một) chai nhựa có nắp màu đen, trên nắp có gắn 01 (Một) ống hút nhựa màu xanh và 01 (Một) ống thủy tinh; 01 (Một) khẩu súng dài bằng kim loại màu đen, thân súng có chữ “AIRFORCE”, số súng 075 T6, có gắn ống ngắm, bình khí nén bằng kim loại màu đen và 02 (hai) nòng giảm thanh kèm theo; 01 (Một) hộp kim loại chứa 70 (Bảy mươi) viên đạn chì, cỡ 5,5 mm; 01 (Một) máy bơm hơi hiệu “NAKI” màu xanh (đã qua sử dụng).
- + Tiền Việt Nam: 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng).
- + 20 USD (20 Đô la Mỹ) gồm: 05 (Năm) tờ loại 2 USD và 10 (Mười) tờ loại 1 USD (đã nộp vào Ngân hàng TMCP N3, chi nhánh Thành phố H).
- + 01 (Một) túi vải màu đỏ bên trong có: 01 (Một) lắc kim loại màu vàng, 01 (Một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng có mặt dây chuyền hình Phật được bọc kim loại màu vàng; 01 (Một) xâu chuỗi đá có xâu kèm 02 hạt kim loại mày vàng và hình con tì hưu màu vàng; 05 (Năm) nhẫn kim loại màu vàng.
- + 01 (Một) bóp da màu đen bên trong có: 01 (Một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) thẻ Visa Ngân hàng T10 mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59H1 – 297.22 mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59C4 – 279.87 mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59C4 – 261.83 mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59S1 – 263.66 mang tên Hoàng Ngọc M1; 01 (Một) thẻ Visa Ngân hàng T10 mang tên Nguyễn Đức T.
- + 01 (Một) túi giấy màu đen có ghi chữ “Hương Thị PLATIUM”, bên trong có: 01 (Một) túi nylon bên trong có 170 (Một trăm bảy mươi) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu M2); 01 (Một) gói nylon bên trong có 05 (Năm) gói nylon, mỗi gói chứa 01 (Một) viên nén màu hồng (ký hiệu M3); 01 (Một) gói nylon bên trong có 05 (Năm) gói nylon, mỗi gói chứa 01 (Một) viên nén màu xanh (ký hiệu M4); 01 (Một) gói nylon chứa 02 mảnh viên nén màu xanh (ký hiệu M5); 01 (Một) gói nylon bên trong có 03 (Ba) gói nylon, mỗi gói chứa 01 viên nén màu xám (ký hiệu M6); 01 (Một) gói nylon bên trong có 01 (Một) gói nylon chứa 01 (Một) viên nén màu nâu (ký hiệu M7) và 01 (Một) gói nylon chứa nhiều mảnh viên nén màu nâu (ký hiệu M8); 01 (Một) gói nylon bên trong có 06 (Sáu) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu M9) và 01 (Một) gói nylon chứa bột màu trắng (ký hiệu M10).
- + 01 (Một) cân điện tử màu đen (đã qua sử dụng); 02 (Hai) chiếc kéo bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 (Một) đồ kẹp bằng kim loại (đã qua sử dụng); 20 (Hai mươi) ống thủy tinh; 20 (Hai mươi) ống hút nhựa; 01 (Một) bật lửa bằng kim lại có khắc chữ “Nhi” (đã qua sử dụng); .
- +01 (Một) xe máy biển số 59C4 – 279.87; 01 (Một) xe máy biển số 59S1 - 263.66;
- + 01 (Một) túi nylon bên trong có nhiều gói nylon nhỏ không chứa gì; 01 (Một) khối hộp hình vuông có ghi chữ “Chong Kol C0850”.
- Thu giữ của Nguyễn Đức T:
Tiền Việt Nam: 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen loại nắp gập (Đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu tím (đã qua sử dụng).
- Thu giữ của Trương Thanh T4: 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 (Một) xe máy hiệu Honda Vision màu xanh, biển số 60F4 – 137.59; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphong 8 Plus màu đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di đọng hiệu Oppo A57 màu xanh (đã qua sử dụng).
- Thu giữ của Lê Thị Ngọc H2: 01 (Một) bịch nylon đựng 01 (Một) bịch màu hồng có ghi chữ “khẩu trang y tế nhãn hiệu Soft – Fit”, bên trong có 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 (Một) Căn cước công dân số [...], cấp ngày: 22/11/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C3 mang tên Lê Thị Ngọc H2; 01 (Một) xe gắn máy hiệu Honda Vison màu xanh, biển số 59D2 – 789.03; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22 (đã qua sử dụng).
- Thu giữ của Nguyễn Thanh T5: 01 (Một) Căn cước công dân số [...] do Bộ C3 cấp ngày 29/11/2021 mang tên Nguyễn Thanh T5; 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59C1 – 181.65, loại xe Vision màu trắng - bạc -
đen mang tên Lê Hải Y; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo A15S (đã qua sử dụng); 01 (Một) xe máy hiệu Honda Vision màu trắng - bạc - đen, biển số 59C1 - 181.65; 01 (Một) bóp màu đen bên trong có 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu.
- Đối với tiền và vật chứng kim loại màu vàng thu giữ của Nguyễn Đức T gồm các tang vật sau: 01 (Một) lắc kim loại màu vàng; 01 (Một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng có 01 (Một) mặt dây chuyền hình Phật được bọc kim loại màu vàng; 01 (Một) xâu chuỗi đá có xâu kèm 02 hạt kim loại màu vàng và hình con tỳ hưu màu vàng; 05 (Năm) nhẫn kim loại màu vàng. Tại Giấy kết quả thử nghiệm số 01082024/05-PNJL-TNV ngày 06/8/2024 của Công ty TNHH Một Thành viên G1 kết luận:
- + Lắc kim loại màu vàng có khối lượng 115,699g (Một trăm mười lăm phẩy sáu trăm chín mươi chín gram), hàm lượng vàng (Au): 61,69%; Sợi dây chuyển bằng kim loại màu vàng có khối lượng 43,906g (Bốn mươi ba phẩy chín trăm lẻ sáu gram), hàm lượng vàng (Au): 61,46%; Mặt dây chuyển hình phật được bọc kim loại màu vàng có khối lượng 31,417g (Ba mươi mốt phẩy bốn trăm mười bảy gram), hàm lượng vàng (Au): 62,63%; Xâu chuỗi đá có xâu kèm 01 hạt kim loại màu vàng và hình con tỳ hưu màu vàng có khối lượng 71,062g (Bảy mươi mốt phẩy không trăm sáu mươi hai gram), hàm lượng vàng (Au): Tỳ hưu: 61,82%, Hạt: 61,58%.
- + 05 (Năm) nhẫn vàng có khối lượng lần lượt: 12,776g (Mười hai phẩy bảy trăm bảy mươi sáu gram), hàm lượng vàng (Au): 61,45%; 21,837g (Hai mươi mốt phẩy tám trăm ba mươi bảy gram), hàm lượng vàng (Au): 61,86%; 10,108g (Mười phẩy một trăm lẻ tám gram), hàm lượng vàng (Au): 61,23%; 5,405g (Năm phẩy bốn trăm lẻ năm gram), hàm lượng vàng (Au): 61,07%; 6,533g (Sáu phẩy năm trăm ba mươi ba gram), hàm lượng vàng (Au): 61,19%; Đối với số tiền 32.500.000 đồng và số kim loại màu vàng nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã nộp vào Kho bạc nhà nướic Quận A.
- Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an Q, TP . tạm giữ của các bị cáo các xe máy như sau:
- + Thu giữ của bị cáo Nguyễn Đức T xe máy hiệu Honda SH, biển số 59C4 - 279.87 và xe máy hiệu Suzuki biển số 59S1 - 263.66. Xe máy hiệu Honda SH biển số 59C4 - 279.87 do Nguyễn Đức T đứng tên chủ sở hữu. T trình bày mua xe này từ tháng 11/2023 từ tiền lao động hợp pháp mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tại Bản Kết luận giám định số 4200/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận số khung, số máy của xe máy trên là nguyên thủy, không thay đổi.
- Biển số xe 59S1 – 263.66 được cấp cho xe máy hiệu Honda Super Dream màu trắng, do ông Võ Công Đ1 (Sinh năm: 1973; Nơi cư trú: C Lô D, Chung cư Ấ, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu.
Tại Bản Kết luận giám định số 4201/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận số khung, số máy của xe máy hiệu Suzuki biển số 59S1 – 263.66 bị mài, đục số, không xác định được số nguyên thủy.
Xác minh tại Công an P4, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, được biết: Ông Võ Công Đ1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số C Lô D, Chung cư Á, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đ1 đã mất vào hồi 00 giờ 52 phút ngày 07/4/2024, theo Trích lục khai tử số 28/2024/TLKT ngày 08/4/2024 của Ủy ban nhân dân Phường 11, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Đức T trình bày: T quen biết với một người tên P3 (Chưa rõ lai lịch) ở Long An qua mạng xã hội. Do P3 lên Thành phố Hồ Chí Minh chơi và thiếu tiền nên cầm cho T xe máy hiệu Suzuki biển số 59S1 – 263.66 và Giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 181349 do Phòng C Công an T cấp ngày 09/10/2018 cho xe máy nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, biển số đăng ký 59S1 – 263.66 để vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Sau đó, P3 không đến chuộc xe và Giấy chứng nhận đăng ký xe trên. Do chỉ quen biết qua mạng xã hội nên T không rõ lai lịch và thông tin liên hệ của P3.
Tại Bản Kết luận giám định số 9773/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 181349, đứng tên chủ xe Hoàng Ngọc M1, biển số đăng ký 59S1-263.66, đề ngày 09 tháng 10 năm 2018 là giả.
Ông Hoàng Ngọc M1 (Sinh năm: 1993; Nơi cư trú: B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) trình bày: Ông M1 chưa bao giờ mua xe máy hiệu Suzuki mang biển số 59S1 – 263.66, không đứng tên chủ sở hữu chiếc xe trên và không biết ai tên Nguyễn Đức T. Từ trước đến nay, ông M1 không làm mất căn cước công dân mà chỉ cung cấp thông tin cá nhân cho nơi làm việc và khi vay tiền trên mạng.
Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H đã tiến hành cho bị can Nguyễn Đức T nhận dạng hình ảnh của ông Hoàng Ngọc M1, kết quả: T xác định ông Hoàng Ngọc M1 không phải đối tượng tên P3 đã thế chấp xe máy hiệu Suzuki biển số 59S1 – 263.66 và Giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 181349 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 09/10/2018 cho xe máy nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, biển số đăng ký 59S1 – 263.66 cho T.
Ngày 22/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H đã ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- + Thu giữ của bị can Trương Thanh T4 xe máy hiệu Honda Vision biển số 60F4 – 137.59. Qua xác minh, được biết: Xe máy hiệu Honda Vision biển số 60F4 - 137.59 do bà Nguyễn Ngọc T6 (Sinh năm: 2002; Nơi cư trú: 1 Tổ B, Khu phố B, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đứng tên chủ sở hữu.
Tại Bản Kết luận giám định số 4202/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận số khung, số máy của xe máy trên là nguyên thủy, không thay đổi.
Bà Nguyễn Ngọc T6 cùng trình bày: Xe máy hiệu Honda Vision biển số 60F4 - 137.59 do bố mẹ bà T6 mua vào tháng 5/2023 với giá khoảng 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và được Công an Thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 60 058133 cho bà T6 đứng tên chủ sở hữu. Bà T6 sử dụng xe máy trên để đi học tại Trường Cao Đẳng Y2. Sáng ngày 26/01/2024, bạn trai và T6 là Trương Thanh T4 sử dụng xe máy trên đưa bà T6 đi học rồi đi công việc riêng. Sau đó, T4 bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh bắt và tạm giữ xe máy trên. Bà T6 không biết T4 sử dụng xe máy trên để mua bán trái phép chất ma túy. Nguyễn Thanh T5 trình bày phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Ngọc T6.
- + Thu giữ của bị can Lê Thị Ngọc H2 xe máy hiệu Honda Vision biển số 59D2 – 789.03. Qua xác minh, được biết: Xe máy hiệu Honda Vision biển số 59D2 – 789.03 do bị can Phan Thị Hồng N đứng tên chủ sở hữu.
Tại Bản Kết luận giám định số 4204/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận số khung, số máy của xe máy trên là nguyên thủy, không thay đổi. Phan Thị Hồng N và Lê Thị Ngọc H2 cùng trình bày: Xe máy hiệu Honda Vision biển số 59D2 – 789.03 do N mua và đứng tên chủ sở hữu từ tháng 4/2021 bằng tiền hợp pháp, không liên quan hành vi phạm tôi. Do N và H2 sống chung tại nhà số B G, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên N để xe máy trên tại nhà để sử dụng chung. Ngày 26/01/2024, H2 sử dụng xe máy nói trên để mang ma túy đi tìm con nghiện để bán thì bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang.
- + Thu giữ của bị can Nguyễn Thanh T5 xe máy hiệu Honda Vision biển số 59C1 – 181.65. Qua xác minh, được biết: Xe máy hiệu Honda Vision biển số 59C1 – 181.65 do bà Lê Hải Y (Sinh năm: 1982; Nơi cư trú: 8 H, Phường A (Nay là Phường A), Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu.
Tại Bản Kết luận giám định số 4203/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận số khung, số máy của xe máy trên là nguyên thủy, không thay đổi.
Bà Lê Hải Y trình bày: Xe máy hiệu Honda Vision biển số 59C1 – 181.65 do bà Y mua và đứng tên chủ sở hữu từ tháng 12/2011. Đến năm 2022, do không có nhu cầu sử dụng xe máy trên nên bà Y đã bán xe này cho một cửa hàng xe máy tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (bà Y không nhớ địa chỉ và tên cửa hàng) với giá khoảng 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Sau khi ký giấy bán xe, bà Y đã giao xe và giấy Chứng nhận đăng ký xe cho cửa hàng. Do thời gian đã lâu nên bà Y không còn giữ giấy bán xe.
Nguyễn Thanh T5 và bà Phạm Thị G (Sinh năm: 1962; Nơi cư trú: F Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh) – mẹ T5 cùng trình bày: Ngày 07/6/2022, bà G cùng T5 đến Cửa hàng X tại số B Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí minh và thỏa thuận mua lại xe máy hiệu Honda Vision biển số 59C1
– 181.65 với giá 14.800.000 đồng (Mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Bà G là người thanh toán số tiền này nhưng để người đứng tên trên Giấy mua bán xe là T5 do bà G mua xe này cho T5 sử dụng đi lại làm công việc sơn nước. Sau khi thanh toán đủ, Cửa hàng xe máy Chí Bảo đã bàn giao xe và Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên bà Lê Hải Y cho bà G. Bà G giao xe này cho T5 sử dụng và bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh tạm giữ. Xác minh tại Cửa hàng X, địa chỉ: B Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, được biết: Ngày 07/6/2022, Cửa hàng xe máy Chí Bảo có lập Hóa đơn buôn bán xe máy (không số) về việc bán cho Nguyễn Thanh T5 xe máy hiệu Honda Vision biển số 59C1 – 181.65 với giá 14.800.000 đồng (Mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSTPHCM-P2 ngày 27/12/2024 của
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo như
sau:
- Truy tố Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2 và Trần Quang V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Truy tố Trương Thanh T4 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Truy tố Nguyễn Thanh T5 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V, Trương Thanh T4, Nguyễn Thanh T5 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố;
Riêng bị cáo Nguyễn Đức T trình bày: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đức T đã tác động gia đình nộp lại số tiền 100.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính. Về tang vật thu giữ thì số tiền 28.000.000 đồng và 20 USD là tiền bị cáo tiết kiệm, cũng như xe máy SH biển số 59C4-279.87, cũng như số tài sản là nhẫn vàng... là tài sản riêng của bị cáo và gia đình khi bị cáo chưa ly hôn không liên quan đến việc mua bán ma túy, nên đề nghị cho bị cáo và vợ cũ của bị cáo là Trần Thị Đ nhận lại.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc T6 đề nghị xin nhận lại xe máy biển số 60F4-137.59 vì bị cáo T5 mượn xe của chị, khi mượn xe T5 chỉ nói với chị là đi công việc riêng và chị hoàn toàn không biết T5 dùng xe của chị để phạm tội mua bán ma túy.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Đ vắng mặt, có lời khai về số tài sản là 01 (Một) lắc kim loại màu vàng, 01 (Một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng có mặt dây chuyền hình Phật được bọc kim loại màu vàng; 01 (Một)
xâu chuỗi đá có xâu kèm 02 hạt kim loại mày vàng và hình con tì hưu màu vàng; 05 (Năm) nhẫn kim loại màu vàng, đều là tài sản của chị, khi ly hôn bị cáo T đã đem cất giấu cho đến khi phạm tội bị thu giữ, nay chị xin được nhận lại số tài sản này.
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt đều có lời khai trong hồ sơ phù hợp với nội dung vụ án.
· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm luận tội:
Sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án, trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa cũng như toàn bộ lời khai của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị như sau:
- + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2 và Trần Quang V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; Điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 17 đến 19 năm tù; xử phạt bị cáo Phan Thị Hồng N từ 15 đến 17 năm tù; xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc H2 từ 16 đến 18 năm tù; xử phạt bị cáo Trần Quang V từ 15 đến 17 năm tù.
- + Tuyên bố bị cáo Trương Thanh T4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Trương Thanh T4 từ 07 đến 08 năm tù;
- + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T5 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T5 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 100.000.000 đồng; đồng thời đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo trong vụ án, cũng như đề nghị về xử lý vật chứng và nghĩa vụ nộp án phí theo quy định, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Nguyễn Đức T không tranh luận và nhờ luật sư bào chữa.
· Luật sư Nguyễn Ngọc T2 trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T: Luật sư thống nhất với tội danh và điều khoản truy tố đối với bị cáo, song mức án 17 đến 19 năm tù mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là quá nghiêm khắc Đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng như bị
cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo có trình độ học vấn thấp. Đề nghị xét xử mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị trả lại cho bị cáo các tài sản không liên quan đến vụ án, cũng như giảm tiền phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Bị cáo Nguyễn Đức T không tranh luận bổ sung và đồng ý lời bào chữa của luật sư, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Các bị cáo Phan Thị Hồng N và Trần Quang V không tranh luận và nhờ luật sư bào chữa.
- Luật sư Nguyễn Trung C trình bày quan điểm bào chữa cho các bị cáo Phan Thị Hồng N và Trần Quang V: Luật sư thống nhất với tội danh và điều khoản truy tố đối với các bị cáo. Đối với bị cáo N, đề nghị xem xét vai trò của N không phải là giúp sức tích cực như bản cáo trạng đã nêu. Tại phiên tòa cả bị cáo T và N đều khai chỉ giúp T nấu ăn, giặt giũ, N chỉ giao cho T5 01 lần và không được T trả công mà chỉ đưa tiền để sinh hoạt. Do đó, đề nghị mức án đối với bị cáo N thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát, về chiếc xe máy thì bị cáo H2 tự lấy xe đi nên đề nghị trả xe lại cho bị cáo N, đồng thời đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với bị cáo V, vai trò V là người sống chung với H2 là người chỉ phụ giúp chính cho bị cáo H2, chứ không liên quan đến bị cáo T và bị cáo N, bị cáo V đi giao ma túy trong hoàn cảnh bất ngờ phải giúp H2 do H2 không có ở nhà. Hành vi của bị cáo V chỉ phạm tội theo khoản 2 Điều 251 vì bị cáo không biết gì về toàn bộ số lượng ma túy mà T giữ mà T chỉ giao một phần cho H2, từ đó V mới giúp sức trong 03 lần. Vụ án này cơ quan điều tra buộc các bị cáo N, H2 và V chịu trách nhiệm với toàn bộ ma túy thu giữ của T là chưa phù hợp vì T đã lấy ma túy về và phân nhỏ ra giao lại cho H2 chủ động đi bán, khi bán được thì T mới trả công. Về tình tiết giảm nhẹ thì bị cáo phạm tội lần đầu, không thu lợi bất chính nên đề nghị mức án khoan hồng đối với bị cáo.
- Bị cáo Phan Thị Hồng N và Trần Quang V không tranh luận bổ sung và đồng ý lời bào chữa của luật sư, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị cáo Lê Thị Ngọc H2 không tranh luận và nhờ luật sư bào chữa.
- Luật sư Huỳnh Đức T7 trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Lê Thị Ngọc H2: Luật sư thống nhất với tội danh và điều khoản truy tố đối với bị cáo, song đề nghị xem xét tình tiết bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo T chỉ được trả công khi bán được hàng cho bị cáo T, có vai trò thứ yếu trong vụ án, nên mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị từ 16 đến 18 năm tù là quá nghiêm khắc. Bị cáo có 03 con nhỏ và có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, có hạn chế về
nhận thức, từ đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Lê Thị Ngọc H2 không tranh luận bổ sung và đồng ý lời bào chữa của luật sư, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Các bị cáo Trương Thanh T4 và Nguyễn Thanh T5 không tự tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đại diện viện kiểm sát đối đáp: Đối với quan điểm đề nghị xét xử bị cáo V ở khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, trong quá trình khám xét thu giữ thì các bị cáo đều sống chung với nhau, các bị cáo H2 và V khai nhận đều chỉ lấy ma túy từ T để bán lại nên khối lượng khám xét thu giữ như thế nào thì các bị cáo bị truy tố với khung hình phạt tương ứng, trong đó bị cáo V phải chịu trách nhiệm với tổng số ma túy thu giữ của bị cáo T là có cơ sở.
Qua nội dung đối đáp, luật sư và đại diện Viện kiểm sát đều giữ nguyên quan điểm đã trình bày và cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ra bản án đúng theo các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V, Trương Thanh T4, Nguyễn Thanh T5 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biển bản băt người khẩn cấp, biên bản khám xét; biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong; biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định; kết luận giám định, lời khai và biên bản đối chất của các bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định như sau:
- Đối với bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V và Trương Thanh T4: Vì mục đích tư lợi, Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2023 đến tháng 01/2024, Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N sống chung như vợ chồng đã mua ma túy của đối tượng tên H5 (chưa rõ lai lịch) về chia nhỏ ra để bán, thuê và nhờ Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V, Trương Thanh T4 phụ giúp trong việc bán ma túy. Tháng 12/2023, T và N thuê căn nhà số B G, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để ở cùng H2 và V, số ma túy T, N mua của H5 về thì phân nhỏ, khi có người cần mua ma túy điện thoại cho T, N thì T, N đưa ma túy cho H2, V đi giao ma túy cho người mua ma túy thu tiền và trả công 10% trong số
tiền ma túy Hệ, V đã bán được. Sau một thời gian, T, N giao ma túy cho H2, V để H2, V tự tìm người để bán để hưởng tiền công và H2, V đã phụ giúp T, N bán ma túy nhiều lần (H2 không nhớ cụ thể số lần bán, V khai nhận bán khoàng 02 đến 03 lần).
Trương Thanh T4 là bạn bè ngoài xã hội với T, thường tới nhà của T và N để chơi và được T nhờ đi giao ma túy khoảng 03 lần. Tại thời điểm bị phát hiện, thu giữ của T, N, H2 và V số ma túy đã được giám định tổng cộng 80,6714 gam ma túy loại MDMA, Methamphetamine và 4,5915 gam ma túy loại Ketamine dùng để bán, ngoài ra còn Thu giữ của Trương Thanh T4 0,7729 gam ma túy loại Methamphetamine dùng để bán và thu giữ của Nguyễn Thanh T5 0,2604 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng mà H2 đã bán cho Nguyễn Thanh T5 trước đó. Quá trình mua bán trái phép chất ma túy đến khi bị phát hiện, T thu lợi số tiền khoảng 100.000.000 đồng và trả công cho H2 khoảng 36.000.000 đồng, N sống chung với T như vợ chồng, V sống chung với H2 như vợ chồng nên T không trả công cho N và V, còn Trương Thanh T4, thì T không trả tiền công mà lo chi phí ăn uống và cho T4 tiền đổ xăng.
Do đó, hành vi của Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V là đồng phạm và đã cấu thành vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, phạm tội thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”, nên tội phạm và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Riêng Trương Thanh T4 là đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Đức T và đã cấu thành vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, phạm tội thuộc trường hợp “hai lần trở lên”, nên tội phạm và hình phạt đối với Trương Thanh T4 được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với Nguyễn Thanh T5 là đối tượng nghiện ma túy, vào lúc 15 giờ 50 phút ngày 25/01/2024, Nguyễn Thanh T5 sau khi mua của Lê Thị Ngọc H2 số ma túy 0,2604 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng, với giá 400.000 đồng, trên đường đem đi sử dụng thì bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi của Nguyễn Thanh T5 đã cấu thành vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh T8 được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm nghiêm trọng đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, các bị cáo có đủ độ tuổi, năng lực hành vi về hình sự, đồng thời đều nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ
trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo là một trong những nguyên nhân dẫn đến làm tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy, tạo tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V phạm tội hai lần trở lên, nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Nguyễn Thanh T5 phạm tội thuộc trường hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích, mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra, các bị cáo đều khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn hối cải, nên các bị cáo cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các bị cáo Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V và Trương Thanh T4 khi phạm tội đều chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Nguyễn Đức T đã tác động gia đình nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính là 100.000.000 đồng; các bị cáo Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V có hoàn cảnh gia đình khó khăn khi các con còn nhỏ và là lao động chính, nên cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trên đây là các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Hội đồng xem xét cân nhắc khi lượng hình, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo.
Xét các bị cáo tuy được xác định không có tiền án, tiền sự, song hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V, Trương Thanh T4 và Nguyễn Thanh T5 đều có tính chất nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù trong trại giam một thời gian theo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo đã gây ra một cách toàn diện theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự, đồng thời có xem xét đến vài trò đồng phạm của các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V, Trương Thanh T4 theo quy định tại các điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với từng bị cáo. Việc áp dụng hình phạt cũng để cho các bị cáo có đủ thời gian tự cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật, và cũng là để răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Do các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V có hành vi mua bán ma túy nhằm mục đích thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật
hình sự và buộc các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V phải nộp số tiền để sung công quỹ nhà nước.
Bị cáo Nguyễn Đức T khai trong quá trình mua bán trái phép chất ma túy đã thu lợi bất chính là 100.000.000 đồng, lời khai này phù hợp với các lời khai của các bị cáo khác, nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết thu hồi số tiền này để sung công quỹ và được trừ vào khoản tiền mà gia đình bị cáo Nguyễn Đức T đã nộp tại Cơ quan Điều tra. Đối với các bị cáo Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V, Hội đồng xét xử không tịch thu khoản tiền thu lợi bất chính do không có cơ sở chứng minh, cũng như miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Trương Thanh T4 và Nguyễn Thanh T5.
[3] Đối với hành vi cất giữ súng hơi, đạn chì và 01 hộp pháo hoa nổ có trọng lượng 1,76 kg của Nguyễn Đức T, Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6470/QĐ-XPHC ngày 14/8/2024 về việc xử phạt đối với Nguyễn Đức T về các hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn”, “Tàng trữ trái phép chi tiết súng săn” và “Tàng trữ trái phép pháo”, nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Đối với đối tượng tên H5 là người bán ma túy cho T và N, do T, N không khai rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra chưa làm rõ, Hội đồng xét xử yêu cầu tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để tránh bỏ lọt người phạm tội.
Đối với đối tượng (chưa rõ lai lịch) làm giả giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 181349 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố H cấp ngày 09/10/2018 cho xe máy nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, biển số đăng ký 59S1 - 263.66, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra; đồng thời, ngày 02/12/2024, ra Quyết định tách hành vi “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” của đối tượng nêu trên để điều tra khi nào có căn cứ sẽ xem xét, xử lý sau, nên Hội đồng xét xử yêu cầu tiếp tục điều tra làm rõ để xác định rõ để tránh bỏ lọt tội phạm.
[4] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc truy tố các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2 và Trần Quang V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Trương Thanh T4 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T5 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở chấp nhận, đồng thời chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính đối với các bị cáo và buộc bị cáo T phải nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính là 100.000.000 đồng, song không chấp nhận đề nghị miễn phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V.
Lập luận trên đây là cơ sở để chấp nhận lời bào chữa của luật sư đã bào chữa cho bị cáo T về tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cũng như trả lại bị cáo, người liên quan các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, song không chấp nhận xét xử bị cáo T dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, cũng như không chấp nhận đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T.
Đồng thời chấp nhận quan điểm của luật sư đã bào chữa cho các bị cáo N và V về tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, song không chấp nhận lời bào chữa cho bị cáo N để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, cũng như không chấp nhận đề nghị miễn hình phạt bổ sung và trả lại xe máy cho bị cáo N; không chấp nhận lời bào chữa đề nghị xét xử bị cáo V theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự để xét xử.
Đồng thời chấp nhận lời bào chữa của luật sư đã bào chữa cho bị cáo H2 về tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, song không chấp nhận lời bào chữa cho bị cáo H2 dưới mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, cũng như không chấp nhận đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo H2.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các luật sư bào chữa cho các bị cáo xuất trình tài liệu chứng cứ phù hợp với các quy định của pháp luật; các luật sư, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện cơ bản là hợp pháp.
[6] Các vấn đề khác:
6.1/ Về vật chứng của vụ án:
- - 01 (Một) túi vải màu xanh bên trong có 29 (Hai mươi chín) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu M1); 01 (Một) chai nhựa có nắp màu đen, trên nắp có gắn 01 (Một) ống hút nhựa màu xanh và 01 (Một) ống thủy tinh; 01 (Một) túi nylon bên trong có 170 (Một trăm bảy mươi) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu M2); 01 (Một) gói nylon bên trong có 05 (Năm) gói nylon, mỗi gói chứa 01 (Một) viên nén màu hồng (ký hiệu M3); 01 (Một) gói nylon bên trong có 05 (Năm) gói nylon, mỗi gói chứa 01 (Một) viên nén màu xanh (ký hiệu M4); 01 (Một) gói nylon chứa 02 mảnh viên nén màu xanh (ký hiệu M5); 01 (Một) gói nylon bên trong có 03 (Ba) gói nylon, mỗi gói chứa 01 viên nén màu xám (ký hiệu M6); 01 (Một) gói nylon bên trong có 01 (Một) gói nylon chứa 01 (Một) viên nén màu nâu (ký hiệu M7) và 01 (Một) gói nylon chứa nhiều mảnh viên nén màu nâu (ký hiệu M8); 01 (Một) gói nylon bên trong có 06 (Sáu) gói nylon chứa
- tinh thể không màu (ký hiệu M9) và 01 (Một) gói nylon chứa bột màu trắng (ký hiệu M10); 01 (Một) túi nylon bên trong có nhiều gói nylon nhỏ không chứa gì; 01 (Một) khối hộp hình vuông có ghi chữ “Chong Kol C0850”; 01 (Một) túi giấy màu đen có ghi chữ “Hương Thị PLATIUM”, bên trong có: 02 (Hai) chiếc kéo bằng kim loại (đã qua sử dụng), 01 (Một) đồ kẹp bằng kim loại (đã qua sử dụng), 20 (Hai mươi) ống thủy tinh, 20 (Hai mươi) ống hút nhựa, 01 (Một) bật lửa bằng kim lại có khắc chữ “Nhi” (đã qua sử dụng); 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 (Một) bịch nylon đựng 01 (Một) bịch màu hồng có ghi chữ “khẩu trang y tế nhãn hiệu Soft – Fit”, bên trong có 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 (Một) bóp màu đen bên trong có 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 (một) biển số 59S1 –-263.66 và 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59S1 - 263.66 mang tên Hoàng Ngọc M1. Hội đồng xét xử thấy các vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (Một) khẩu súng dài bằng kim loại màu đen, thân súng có chữ “AIRFORCE”, số súng 075 T6, có gắn ống ngắm, bình khí nén bằng kim loại màu đen và 02 (hai) nòng giảm thanh kèm theo; 01 (Một) hộp kim loại chứa 70 (Bảy mươi) viên đạn chì, cỡ 5,5 mm; 01 (Một) máy bơm hơi hiệu “NAKI” màu xanh (đã qua sử dụng), là vật chứng không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (Một) cân điện tử màu đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen loại nắp gập (Đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphong màu tím (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphong 8 Plus màu đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di đọng hiệu Oppo A57 màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện toại di động hiệu Oppo A15S (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22 (đã qua sử dụng), là những vật chứng các bị cáo dùng để phạm tội nên tịch thu sung công quỹ.
- - Tiền Ngân hàng N3 thu của Nguyễn Đức T 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền các bị cáo dùng vào mục đích phạm tội, nên cần tịch thu sung công quỹ.
- - Trả lại bị cáo Nguyễn Đức T số tiền Việt Nam đồng là 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng) và 20 USD (20 Đô la Mỹ) gồm: 05 (Năm) tờ loại 2 USD và 10 (Mười) tờ loại 1 USD (đã nộp vào Ngân hàng TMCP N3, chi nhánh T11); 01 (Một) bóp da màu đen bên trong có: 01 (Một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) thẻ Visa Ngân hàng T10 mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59H1 – 297.22 mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59C4 – 261.83 mang tên Nguyễn Đức T;
- 01 (Một) xe máy biển số 59C4 - 279.87 và 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59C4 – 279.87 mang tên Nguyễn Đức T, do Nguyễn Đức T là chủ sở hữu. T trình
bày mua xe này từ tháng 11/2023 từ tiền lao động hợp pháp mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội, số khung, số máy của xe máy trên là nguyên thủy, không thay đổi nên trả lại cho Nguyễn Đức T, song tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án.
- - Trả lại Trần Thị Đ 01 (Một) túi vải màu đỏ bên trong có: 01 (Một) lắc kim loại màu vàng, 01 (Một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng có mặt dây chuyền hình Phật được bọc kim loại màu vàng; 01 (Một) xâu chuỗi đá có xâu kèm 02 hạt kim loại mày vàng và hình con tì hưu màu vàng; 05 (Năm) nhẫn kim loại màu vàng
- 01 (Một) xe máy biển số 5951 -–-263.66 và 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59S1 – 263.66 mang tên Hoàng Ngọc M1, qua xác minh xác định biển số xe 59S1 – 263.66 được cấp cho xe máy hiệu Honda Super Dream màu trắng, do ông Võ Công Đ1 (Sinh năm: 1973; Nơi cư trú: C Lô D, Chung cư Ấ, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu (đã chết ngày 07/2/2024). qua giám định kết luận số khung, số máy của xe máy hiệu Suzuki biển số 59S1 - 263.66 bị mài, đục số, không xác định được số nguyên thủy. Nguyễn Đức T trình bày: T quen biết với một người tên P3 (Chưa rõ lai lịch) ở Long An qua mạng xã hội. Do P3 lên Thành phố Hồ Chí Minh chơi và thiếu tiền nên cầm cho T xe máy hiệu Suzuki biển số 59S1 – 263.66 và Giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 181349 do Phòng C Công an T cấp ngày 09/10/2018 cho xe máy nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, biển số đăng ký 59S1 - 263.66 để vay số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Sau đó, P3 không đến chuộc xe và Giấy chứng nhận đăng ký xe trên. Do chỉ quen biết qua mạng xã hội nên T không rõ lai lịch và thông tin liên hệ của P3. Qua Kết luận giám định Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 181349, đứng tên chủ xe Hoàng Ngọc M1, biển số đăng ký 59S1-263.66, đề ngày 09 tháng 10 năm 2018 là giả. Lời khai của ông M1 khẳng từ trước đến nay, ông M1 không làm mất căn cước công dân mà chỉ cung cấp thông tin cá nhân cho nơi làm việc và khi vay tiền trên mạng. Để đảm bảo quyền lời của công dân, Hội đồng xét xử giao cho Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh thông báo, xử lý theo diện tài sản vắng chủ đối với xe máy nêu trên.
- 01 (Một) xe máy hiệu Honda Vision màu xanh, biển số 60F4 - 137.59 thu giữ của của Nguyễn Thanh T5 do bà Nguyễn Ngọc T6 (Sinh năm: 2002; Nơi cư trú: 1 Tổ B, Khu phố B, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đứng tên chủ sở hữu và đã cho Trương Thanh T4 sử dụng để đưa bà T6 đi học, rồi đi công việc riêng, bà T6 không biết T4 sử dụng xe để đi mau bán trái phép chất ma túy, lời khai của T4 cũng phù hợp với lời khai của T6, nên Hội đồng xét xử trả lại xe cho Nguyễn Ngọc T6 là phù hợp với các quy định của pháp luật.
- - Trả lại Nguyễn Thanh T501 (Một) Căn cước công dân số [...] do Bộ C3 cấp ngày 29/11/2021 mang tên Nguyễn Thanh T5;
- -01 (Một) xe máy hiệu Honda Vision màu trắng - bạc - đen, biển số 59C1 - 181.65
và 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59C1 – 181.65, loại xe Vision màu trắng - bạc - đen mang tên Lê Hải Y, do bố của bà Y1 mua cho bà Lê Hải Y trình bày mua và đứng tên chủ sở hữu từ tháng 12/2011, đến năm 2022, do không có nhu cầu sử dụng xe máy trên nên bà Y đã bán xe này cho một cửa hàng xe máy tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh với giá khoảng 10.000.000 đồng và không liên quan gì đến xe này nữa. Nguyễn Thanh T5 và bà Phạm Thị G mẹ T5 cùng trình bày: Ngày 07/6/2022, bà G cùng T5 đến Cửa hàng xe máy Chí Bảo thỏa thuận mua lại xe máy hiệu Honda Vision biển số 59C1 - 181.65 với giá 14.800.000 đồng, bà G là người thanh toán số tiền này nhưng để người đứng tên trên Giấy mua bán xe là T5 do bà G mua xe này cho T5 sử dụng đi lại làm công việc sơn nước T5 sử dụng xe này để làm phương tiện đi mua ma túy và bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh tạm giữ. Nên Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ.
- - Trả lai Lê Thị Ngọc H2: 01 (Một) Căn cước công dân số [...], cấp ngày: 22/11/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C3 mang tên Lê Thị Ngọc H2;
- - 01 (Một) xe gắn máy hiệu Honda Vison màu xanh, biển số 59D2 – 789.03, qua xác minh, được biết xe máy hiệu Honda Vision biển số 59D2 – 789.03 do bị cáo Phan Thị Hồng N đứng tên chủ sở hữu. Các bị cáo Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2 cùng trình bày: Xe máy hiệu Honda Vision biển số 59D2 – 789.03 do N mua và đứng tên chủ sở hữu từ tháng 4/2021 bằng tiền hợp pháp, không liên quan hành vi phạm tôi. Do N và H2 sống chung tại nhà số B G, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên N để xe máy trên tại nhà để sử dụng chung, đến ngày 26/01/2024, H2 sử dụng xe máy nói trên để mang ma túy đi tìm con nghiện để bán thì bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang. Hội đồng xét xử thấy đây là phương tiện các bị cáo dùng để phạm tội, nên tịch thu sung công quỹ.
6.2/ Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.
6.3/ Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về hình phạt:
1.1/ Căn cứ điểm h khoản 3 và khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T: 18 (mười tám) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/01/2024.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.
1.2/ Căn cứ điểm h khoản 3 và khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Phan Thị Hồng N: 16 (mười sáu) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/01/2024.
Buộc bị cáo Phan Thị Hồng N phải nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.
1.3/ Căn cứ điểm h khoản 3 và khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc H2: 17 (mười bảy) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/01/2024.
Buộc bị cáo Lê Thị Ngọc H2 phải nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.
1.4/ Căn cứ điểm h khoản 3 và khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Quang V: 15 (mười lăm ) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/01/2024.
Buộc bị cáo Trần Quang V phải nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.
3.5/ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trương Thanh T4: 07 (bảy) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/01/2024.
1.6/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T5: 03 (ba) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/01/2024.
2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; căn cứ khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
2.1/ Tịch thu tiêu hủy gồm: 03 (Ba) Gói niêm phong có chữ ký tên Nguyễn Đức T, Lê Thị Ngọc H2, Thiếu tá Trần Đình H6, Trần Tuấn E và hình dấu của Công an phường P, Quận G, TP . (số F, 649/24 G2, 649/24 G3, không kiểm đếm, kiểm tra tang vật bên trong niêm phong); 01 (Một) Gói niêm phong có chữ ký tên Trương Thanh T4, Thiếu tá Trần Đình H6, Trần Minh T9 và hình dấu của Công an phường P, Quận G, TP . (số F, không kiểm đếm, kiểm tra tang vật bên trong niêm phong); 01 (Một) Gói niêm phong có chữ ký tên Lê Thị Ngọc H2, Thiếu tá Trần Đình H6, Trần Minh T9 (số F- Q4, không kiểm đếm, kiểm tra tang vật bên trong niêm phong); 01 (Một) Gói niêm phong có chữ ký tên Nguyễn Thanh T5, Thiếu tá Trần Đình H6, Trần Minh T9 và hình dấu Công an phường A, Quận D, TP . (số F, không kiểm đếm, kiểm tra tang vật bên trong niêm phong); 01 (Một) chai nhựa có nắp màu đen, trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa màu xanh và 01 ống thủy tinh; 01 (Một) túi giấy màu đen có ghi chữ “Hương Thị PLATIUM; 02 (Hai) chiếc kéo bằng kim loại; 01 (Một) đồ kẹp bằng kim loại; 20 (Hai mươi) ống thủy tinh; 20 (Hai mươi) ống hút nhựa; 01 (Một) bật lửa bằng kim loại có khắc chữ “Nhi”; 01(một) bóp da; 01 (Một) túi nylon bên trong có nhiều gói nylon nhỏ không chứa gì; 01 (một) biển số 59S1 –-263.66 và 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59S1 - 263.66 mang tên Hoàng Ngọc M1.
- - 01 (Một) khẩu súng dài bằng kim loại màu đen, thân súng có chữ “AIRFORCE”, số súng 075 T6, có gắn ống ngắm, bình khí nén bằng kim loại màu đen và 02 (hai) nòng giảm thanh kèm theo; 01 (Một) hộp kim loại chứa 70 (Bảy mươi) viên đạn chì, cỡ 5,5 mm; 01 (Một) máy bơm hơi hiệu “NAKI” màu xanh.
2.2/ Tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm:
- - 01 (Một) cân điện tử màu đen (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số IMEI:350731/69/117213/0 (không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng (không kiểm tra được IMEI) (không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu tím (không kiểm tra được IMEI) (thực nhận 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu tím, khay sim không Imei, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng, số IMEI: 353185/44/244957/7 (không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng, số IMEI: 353247431656370 (thực nhận 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu vàng, Imei khay sim:
- 353247431656370, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu đen, số IMEI: 356116099091765 (thực nhận 01 điện thoại di động hiệu Iphone, Imei khay sim: 356116099091765, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo A57 màu xanh (không kiểm tra được IMEI) (thực nhận 01 điện thoại di động hiệu Oppo kiểu dáng A57 màu xanh, lưng bể, bong, không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh (không kiểm tra được IMEI) (không kiểm tra được IMEI) (bung lưng, pin phù, không model, không số, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong do không có nguồn điện); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu hồng (không kiểm tra được IMEI) (loại trung quốc, có chữ F phone, không kiểm tra được IMEI) (không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong do không có nguồn điện); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen (không kiêm tra được I) (cũ, trầy tróc, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong do không có nguồn điện).
- - Tiền Ngân hàng N3 104.500.000 (một trăm linh bốn triệu năm trăm nghìn) đồng (Theo hai Giấy nộp tiền vào tài khoản kho bạc nhà nước Thành phố H số 39490905977500000 cùng ghi ngày 03/12/2024)
- - 01 (Một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: HONDA, số loại: VISION, dung tích xi lanh: 108, biển số: 59D2–789.03, số khung: RLHJF5830KY490037, số máy: JF86E-0189946 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra);
- - 01 (Một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: HONDA, số loại: VISION, dung tích xi lanh: 108, biển số: 59C1-181.65, số khung: RLHJF3307CY057480, số máy: JF33E-0057526 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) và 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59C1-181.65, loại xe Vision màu trắng – bạc – đen mang tên Lê Hải Y.
2.3/ Trả lại bị cáo Nguyễn Đức T gồm: Số tiền Việt Nam đồng là 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng) và 20 USD (20 Đô la Mỹ) gồm: 05 (Năm) tờ loại 2 USD và 10 (Mười) tờ loại 1 USD (đã nộp vào tài khoản kho bạc nhà nước Thành phố H ngày 24/12/2024); 01 (Một) bóp da màu đen bên trong có: 01 (Một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Đức T, 01 (Một) Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức T, 01 (Một) thẻ Visa Ngân hàng T10 mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59H1 - 297.22 mang tên Nguyễn Đức T; 01 (Một) Giấy đăng ký xe biển số 59C4 -261.83 mang tên Nguyễn Đức T;
- - 01 (Một) xe hai bánh gắn máy, Nhãn hiệu: HONDA, Số loại: SH150, Dung tích xi lanh: 152, biển số: 59C4-279.87, sô khung: ZDCKF10B09F016898, số máy:KF08E-1027495-KTGE1 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc
bên trong không kiểm tra) mang tên Nguyễn Đức T, song tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án.
2.4/ Trả lại Nguyễn Ngọc T601 (Một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: HONDA, số loại: VISION, dung tích xi lanh: 109, biển số: 60F4-137.59, sô khung: RLHJK0311NZ038956, số máy:JK03E-5375914 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) do Nguyễn Ngọc T6 là chủ sở hữu.
2.5/ Giao Cơ quan Thi hành án dân sự Thành phố H thông báo trong hạn 12 tháng đối với các tài sản sau: 01 (Một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: không xác định, số loại: không xác định, dung tích xi lanh: không xác định, biẻn số giả: 59S1-263.66, số khung (bị mài, đục số, không xác định): MHDBF13BLWJ605371, số máy (bị mài, đục số, không xác định): F125-ID605501(không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra). Nếu sau 12 tháng không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu bán đấu giá sung công quỹ nhà nước.
2.6/ Trả lại Nguyễn Thanh T501 (Một) Căn cước công dân số [...] do Bộ C3 cấp ngày 29/11/2021 mang tên Nguyễn Thanh T5;
2.7/ Trả lai Lê Thị Ngọc H2:01 (Một) Căn cước công dân số [...], cấp ngày: 22/11/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C3 mang tên Lê Thị Ngọc H2;
(Các vật chứng nêu trên được liệt kê theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2025/225 ngày 26/01/2025 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và hai giấy nộp tiền vào tài khoản kho bạc nhà nước Thành phố H số 39490905977500000 cùng ghi ngày 03/12/2024, giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước Q1 từ Ngân hàng TMCP N3 ngày 05/10/2023).
2.8/ Trả lại Trần Thị Đ 01 (Một) túi vải màu đỏ bên trong có: 01 (Một) lắc kim loại màu vàng, 01 (Một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng có mặt dây chuyền hình Phật được bọc kim loại màu vàng; 01 (Một) xâu chuỗi đá có xâu kèm 02 hạt kim loại mày vàng và hình con tì hưu màu vàng; 05 (Năm) nhẫn kim loại màu vàng.
(Theo biên bản giao nhận tài sản số 01/2024/BBBG-CQCSĐT CATPHCM ngày 27/12/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H và Kho bạc nhà nước Q1)
3/ Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý đối với đối tượng H5 là người bán ma túy cho Nguyễn Đức T và Phan Thị Hồng N theo các quy định của pháp luật nhằm tránh bỏ lọt người phạm tội.
4/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q2,
Các bị cáo Nguyễn Đức T, Phan Thị Hồng N, Lê Thị Ngọc H2, Trần Quang V, Trương Thanh T4, Nguyễn Thanh T5 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03 tháng 3 năm 2025) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồng Sơn |
Bản án số 91/2025/HSST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 91/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
