Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/HS-ST.

Ngày: 26 - 03 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH – TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Phương

Ông Hoài Đức Huệ.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Trịnh Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Đình Tứ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 88/2025/TLST-HS ngày 6 tháng 03 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Ngô Quang H năm 1994 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng ký HKTT: khu phố Đ, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh HóaChỗ ở hiện nay: khu phố Đ, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Quang T năm 1971 và bà Vũ Thị Đ năm 1972. Bị cáo có vợ tên Lê Mai L năm 1995 và có 2 con (lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021).

    - Tiền án, tiền sự: Không.

    - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (bị cáo có mặt).

  2. Vũ Tiến T1, sinh năm 2000 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng ký HKTT: khu phố Q, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh HóaChỗ ở hiện nay: khu phố Q, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Tiến B năm 1973 và bà Phan Thị D, sinh năm 1975. Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

    - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (bị cáo có mặt).

  3. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1983 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng ký HKTT: khu phố Đ, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã V, huyện B, Thành phố H nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D1 năm 1949 và bà Dư Thị N năm 1953; bị cáo có vợ tên Lê Thị H2sinh năm 1985 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không.

    - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (bị cáo có mặt).

  4. Nguyễn Văn V, sinh năm 1986 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng ký HKTT: khu phố Đ, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh HóaChỗ ở hiện nay: khu phố Đ, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H2( đã chết ) và bà Trần Thị P năm 1960; Bị cáo có vợ là Lê Thị T2sinh năm 1983 và có 02 con (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2023).

    - Tiền án, tiền sự: Không.

    - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (bị cáo có mặt).

  5. Châu Trường X4, sinh năm 1983 tại tỉnh Tiền Giang. Nơi đăng ký HKTT: ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Tiền GiangChỗ ở hiện nay: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Châu V1 N1sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị C năm 1963; Bị cáo có vợ là Trần Thị M H4sinh năm 1987 và có 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019).

    - Tiền án, tiền sự: Không.

    - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (bị cáo có mặt).

Bị hại: Công ty TNHH H21( vắng mặt ).

Địa chỉ: khu công nghiệp N, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/12/2024, Công ty trách nhiệm hữu hạn H22 chỉ: KCN Nhơn Trạch I, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Naithoả thuận bán sắt phế liệu cho Ngô Quang H3 giá 10.000 đồng/1kg và hẹn Hngày 18/12/2024 đưa xe đến Công ty H7nhận hàng. Đến ngày 18/12/2024, H4 01 xe ô tô tải BKS: 51C-002.30 của Công ty trách nhiệm hữu hạn D2 B1điều khiển và thuê Vũ Tiến T Văn H Văn VLê Quang B Tiến T3và C L1đến Công ty H7bốc sắt cân. Đến nơi, Hđược Công ty H7cho mượn một cái cân loại 150kg nhãn hiệu Nhơn H5để cân sắt phế liệu, Hsử dụng 01 (một) khay bằng sắt do H5 bị từ trước để bốc phế liệu lên cân. Bên Công ty H23 nhân viên kỹ thuật xuống giám sát quá trình cân sắt phế liệu.

Quá trình bốc sắt phế liệu lên khay sắt để tiến hành cân, Hthấy Công ty H7chỉ có 01 người giám sát cân là Châu Trường Xnên H sinh ý định gian lận trọng lượng khi cân. Lúc này, H6 với H1T1và Vđi tìm các thùng nhựa cũ (loại thùng đựng nhớt, sơn), các trụ sắt, cây gỗ có sẵn trong kho nhằm mục đích kê 04 góc của khay sắt lên cao để gian lận trọng lượng thực tế của mỗi lần cân. Đồng thời, H6 với T1H1và Vmỗi lần cân thì dùng tay nâng khay sắt lên nhằm làm giảm trọng lượng thực tế của cân, T1H1và Vđồng ý. Khi thấy T1H1và V2 thì X2 đồng ý. Lúc này, Huỳnh Lệ T2 T4sinh năm 1982 là Trưởng phòng kế hoạch và xuất nhập cảnh của Công ty H7gọi điện bằng bộ đàm nói Xhỗ trợ cho H7 cho nhanh. Do đó, X ý cho H8 đồng phạm tiếp tục cân gian lận và mỗi lần cân, X1 sử dụng điện thoại cá nhân chụp lại số kg trên mặt cân nhưng không lấy toàn cảnh mà chụp gần mặt cân để thu nhỏ hình, tránh chụp các thùng nhựa và trụ sắt kê khay phế liệu dùng để gian lận khi cân nhằm che dấu hành vi cân gian lận cho H9 đồng phạm.

Tổng cộng Hvà đồng phạm cân được 17 lần với tổng trọng lượng Xghi nhận là 1.948kg, sau khi trừ trọng lượng khay sắt là 306kg thì trọng lượng sắt phế liệu còn lại là 1.642kg. Cân xong, H10 thủ tục cho xe ra cổng và đi về. Khi B1đang điều khiển xe ô tô BKS: 51C-002.30 di chuyển trên đường T, KCN N, xã P bị Công an huyện N kiểm tra và yêu cầu B1điều khiển xe đến Trạm cân xe Miền Đông cân lại và xác định được trọng lượng tổng của xe và sắt phế liệu là: 13.230kg, trong đó: trọng lượng sắt phế liệu là 6.740kg, trọng lượng xe là 6.490kg. Tiếp tục đối chiếu với kết quả Hcân tại Công ty H24 nhận thì trọng lượng sắt phế liệu bị gian lận là 5.098kg. Cơ quan CSĐT Công an huyện N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi “Lừa dối khách hàng” đối với Vũ Tiến T1Nguyễn V3 H1Nguyễn Văn Vvà Châu T3 X

Đến ngày 27/12/2024, Ngô Quang H11 nguyện đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N để đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 6.740 kg sắt; 01 cái cân, loại cân 150 kg nhãn hiệu Nhơn H5 04 thùng nhựa cũ; 01 trục bánh răng màu xám; 03 trục sắt màu xám (dạng tụ bóng đèn) cũ (không xác định được tình trạng hoạt động); 01 cục nhựa hình khối, kích thước khoảng 40 cm x 10 cm x 10 cm; 01 đoạn gỗ dài 70 cm; 01 đoạn gỗ dài khoảng 1,1 m của Công ty TNHH H21

  • - 01 xe ô tô tải BKS: 51C-002.30 của Công ty TNHH D3.
  • - 01 cái khay sắt, kích thước 80 cm x 90 cm.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen (đã qua sử dụng) của Châu Trường X01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu ghi đen (đã qua sử dụng) của Vũ Tiến T101 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen (đã qua sử dụng) của Nguyễn Văn H12 điện thoại di động hiệu oppo, màu đen (đã qua sử dụng) của Nguyễn Văn V
  • - 01 điện thoại di động hiệu oppo, màu tím (đã qua sử dụng) của Ngô Quang H13

Tại Kết luận định giá tài sản số 114/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N 25/12/2024 xác định 5.098 kg sắt có giá trị là 43.333.000 đồng.

* Tại bản cáo trạng số: 113/CT.VKS-NT ngày 04/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Ngô Quang HVũ T4 T1Nguyễn Văn H1Nguyễn Văn VChâu Trường X về tội “ Lừa dối khách hàng” theo khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 198; Điều 17, Điều 36, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
  • Xử phạt Ngô Quang H13 từ 14 đến 16 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt Vũ Tiến T1 từ 12 đến 14 tháng cải tạo không giam giữ
  • Xử phạt Nguyễn Văn H1 từ 12 đến 14 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Xử phạt Nguyễn Văn V từ 12 đến 14 tháng cải tạo không giam giữ
  • Áp dụng khoản 1 Điều 198; Điều 17, Điều 35, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
  • Xử phạt Châu Trường Xtừ 30.000.000đ đến 40.000.000₫.
  • Và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên Tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Các bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, các bị cáo nói lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về trách nhiệm hình sự: Vào ngày 18/12/2024, tại Công ty TNHH H25, huyện N, tỉnh Đồng Nai Ngô Quang HVũ Tiến T1Nguyễn Văn H Văn Vvà Châu T thực hiện hành vi cân gian dối nhằm chiếm đoạt 5.098 kg sắt có giá trị là 43.333.000 đồng thì bị bắt quả tang. Các bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội. Vì vậy có đủ căn cứ và cơ sở xác định hành vi của các bị cáo Ngô Quang HVũ T4 T1Nguyễn Văn H1Nguyễn Văn VChâu Trường X4 : “Lừa dối khách hàng” theo khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ.

[3]. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: các bị cáo Ngô Quang HVũ T4 T1Nguyễn Văn H1Nguyễn Văn VChâu T có nhân thân tốt.

Tính chất, mức độ của hành vi: Xét tính chất tội lừa dối khách hàng quy định tại khoản 1 Điều 198 Bộ luật Hình sự là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của pháp nhân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác.

Xét vai trò của từng bị cáo: Ngô Quang H14 người rủ rê, bàn bạc với Vũ T5 T1Nguyễn Văn H1Nguyễn Văn Vthực hiện hành vi cân gian lận sắt phế liệu.

Vũ Tiến T1Nguyễn Văn H1Nguyễn Văn Vlà người giúp sức tích cực cho H15 hiện hành vi cân gian lận sắt phế liệu. Bị cáo Châu Trường X2 có bàn bạc với bị cáo H16 được chia lợi nhuận nhưng biết đó là vi phạm pháp luật nhưng vẫn làm lơ cho H7 gian lận giữ vai trò giúp sức không đáng kể.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Ngô Quang H17 TVũ T5 T1Nguyễn Văn H1và Nguyễn Văn V phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tài sản đã thu hồi trả cho chủ sở hữu, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo H18 khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật và mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo mà điều luật đã quy định. Nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Ngô Quang H Vũ T5 T1Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn V hình phạt cải tạo không giam giữ một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo.

Về khấu trừ một phần thu nhập: Các bị cáo hiện nay nghề nghiệp không ổn định hoặc không có nghề nghiệp nên xét miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt.

Đối với bị cáo Châu T3 X tham gia với vai trò không đáng kể, không có bàn bạc thỏa thuận trước, không được chia tiền nghĩ nên chỉ phạt tiền bị cáo cũng đủ răn đe giáo dục.

Đối với Huỳnh Lệ Thùy T6, không có hành vi bàn bạc, chỉ đạo X3 sức cho H9 đồng phạm cân gian lận sắt phế liệu của Công ty TNHH H21, do đó chưa đủ căn cứ để xử lý T4về hành vi giúp sức cho H9 đồng phạm.

Đối với N1 B2Vũ T5 T3và Cao Văn L1 không biết việc Hvà đồng phạm cân gian lận sắt phế liệu của Công ty TNHH H21, do đó Cơ quan CSĐT không tiến hành xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4]. Về xử lý vật chứng:

  • - 01 cái khay sắt, kích thước 80 cm x 90 cm là công cụ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen (đã qua sử dụng) cho Châu Trường X01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu ghi đen (đã qua sử dụng) cho Vũ Tiến T101 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen (đã qua sử dụng) cho Nguyễn Văn H12 điện thoại di động hiệu oppo, màu đen (đã qua sử dụng) cho Nguyễn Văn V4 01 điện thoại di động hiệu oppo, màu tím (đã qua sử dụng) cho Ngô Quang H19 không liên quan đến vụ án.
  • - Đối với chiếc xe ô tô tải BKS: 51C-002.30 của Công ty TNHH D4, do Công ty TNHH D5 biết H9 đồng phạm thuê để dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty TNHH D3
  • - Đối với 6.740 kg sắt; 01 cái cân, loại cân 150 kg nhãn hiệu Nhơn H5 04 thùng nhựa cũ; 01 trục bánh răng màu xám; 03 trục sắt màu xám (dạng tụ bóng đèn) cũ (không xác định được tình trạng hoạt động); 01 cục nhựa hình khối, kích thước khoảng 40 cm x 10 cm x 10 cm; 01 đoạn gỗ dài 70 cm; 01 đoạn gỗ dài khoảng 1,1 m đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty TNHH H21
  • Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH H21 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí sơ thẩm: các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326, 327 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Ngô Quang HVũ T4 T1Nguyễn Văn H1Nguyễn Văn VChâu Trường X4 “Lừa dối khách hàng”.

  • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 198; Điều 17, Điều 36, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 BLHS;

    Xử phạt bị cáo Ngô Quang H13 12 ( mười hai ) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi 9 ngày tạm giữ x 3= 27 ngày. Thời hạn còn phải chấp hành là 11 ( mười một ) tháng 3 ngày.

    Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao bị cáo H cho UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

  • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 198; Điều 17, Điều 36, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 BLHS;

    Xử phạt bị cáo Vũ Tiến T1 12 ( mười hai ) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi 9 ngày tạm giữ x 3= 27 ngày. Thời hạn còn phải chấp hành là 11 ( mười một ) tháng 3 ngày.

    Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao bị cáo T1 cho UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo T1 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

  • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 198; Điều 36, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 BLHS;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V5 ( mười hai ) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi 9 ngày tạm giữ x 3= 27 ngày. Thời hạn còn phải chấp hành là 11 ( mười một ) tháng 3 ngày.

    Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao bị cáo V cho UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo V có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

  • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 198; Điều 17, Điều 36, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 BLHS;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 12 ( mười hai ) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ đi 9 ngày tạm giữ x 3= 27 ngày. Thời hạn còn phải chấp hành là 11 ( mười một ) tháng 3 ngày.

    Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao bị cáo H1 cho UBND xã V, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo H1 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

  • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 198; Điều 17, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 BLHS;

    Xử phạt bị cáo Châu Trường X số tiền 30.000.000₫ ( Ba mươi triệu đồng ).

- Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Ngô Văn H20 Tiến T Văn VNguyễn V

- Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 cái khay sắt, kích thước 80 cm x 90 cm là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Trả lại 01 điện thoại di động hiệu samsung, màu đen (đã qua sử dụng) cho Châu Trường X01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu ghi đen (đã qua sử dụng) cho Vũ Tiến T101 điện thoại di động hiệu Redmi, màu đen (đã qua sử dụng) cho Nguyễn Văn H12 điện thoại di động hiệu oppo, màu đen (đã qua sử dụng) cho Nguyễn Văn V4 01 điện thoại di động hiệu oppo, màu tím (đã qua sử dụng) cho Ngô Quang H19 không liên quan đến vụ án.
  • (Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 6/03/2025).
  • * Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Buộc các bị cáo Ngô Quang HVũ T4 T1Nguyễn Văn VNguyễn Văn H1Châu Trường X mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Thi hành án;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Đình Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (lừa dối khách hàng)

  • Số bản án: 91/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa dối khách hàng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Quang H và đồng phạm có hành vi cân gian dối phế liệu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger