Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/HS-ST

Ngày: 23-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Đới Xuân Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lý Ngọc Sáng

- Ông Nguyễn Xuân Định

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Tháng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST- HS ngày 09/5/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò A T - Sinh năm 1960.

Nơi cư trú: bản N, xã V, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Mảng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò A Đ (đã chết) và bà Chìn Me V (đã chết); Bị cáo có vợ là Chìn Thị Đ1 - sinh năm 1962; bị cáo có 08 con. Con lớn nhất sinh năm 1979, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" từ ngày 13/02/2025 cho đến nay (Có mặt).

- Bị hại:

  1. Anh Pàn A L - sinh năm 1993
  2. Nơi cư trú: bản N, xã V, huyện M, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)

  3. Anh Chìn Văn Đ2 - sinh năm 1995
  4. Nơi cư trú: bản N, xã V, huyện M, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Anh Lò A S - sinh năm 1990

Nơi cư trú: Nơi cư trú: bản N, xã V, huyện M, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mặc dù Lò A T đã thông báo với các hộ dân ở bản N, xã V, huyện M, tỉnh Lai Châu về việc không được thả rông dê nhưng dê của các hộ dân trong bản vẫn được thả rông và thường xuyên phá hoại nương ngô, sắn của gia đình Lò A T tại bản Nậm Suổng. Bực tức trước tình trạng này, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, Lò A T nảy sinh ý định đầu độc đàn dê được thả rông.

Vì biết rằng dê và các loại gia súc như trâu, bò có thể chết nếu ăn hoặc uống phải đạm u rê, T đã lấy 01 con dao, đồng thời mang theo túi nilon màu hồng đựng đạm u rê mua từ tháng 12/2024 để bón rau nhưng vẫn còn thừa. Sau đó, T đi bộ từ nhà đến lán nương của anh Lò A S (sinh năm 1990, trú cùng bản) và để lại túi đạm u rê tại đó.

Sau đó, T cầm dao đến nương sắn của gia đình (giáp nương của anh Lò A S) và đào một củ sắn có đường kính khoảng 04 cm, dài khoảng 30 cm rồi quay lại. Do không có vật dụng để đựng, T đi đến khu vực bờ suối N, cách đó khoảng 30 m, nhặt một tấm bạt rồi quay lại chỗ để đạm u rê trước đó. Tại đây, T cắt tấm bạt thành hai mảnh, dùng dao băm nhỏ củ sắn, sau đó bốc hai nắm đạm u rê trong túi rồi trộn đều với số sắn đã băm. Teo chia hỗn hợp này thành hai phần và đặt lên hai mảnh bạt với mục đích để đàn dê ăn vào sẽ bị chết. Sau khi thực hiện xong, T mang túi nilon màu hồng đựng đạm u rê và con dao về nhà cất giấu, không nói cho ai biết về hành vi của mình.

Do đàn dê được thả rông và không bị nhốt vào ban đêm, trong khoảng thời gian từ 17 giờ 30 phút ngày 17/12/2024 đến khoảng 07 giờ ngày 18/12/2024, bốn con dê đã vào nương của anh Lò A S và ăn phải số sắn băm nhỏ trộn đạm u rê mà T để lại. Trong số đó, có hai con dê cái lông đen của anh P A L (sinh năm 1993), gồm một con nặng 42 kg và một con nặng 10 kg, cùng hai con dê cái lông đen của anh Chìn Văn Đ2 (sinh năm 1995), gồm một con nặng 8 kg và một con nặng 7,5 kg.

Khoảng 07 giờ ngày 18/12/2024, một số người dân trong bản phát hiện bốn con dê trên đã chết tại nương và ven suối gần nương của anh S. Khi anh L và anh Đ2 đến kiểm tra, họ xác định đó là dê của gia đình mình và nghi ngờ Lò A T là người đã gây ra sự việc. Ngay sau đó, cả hai đến Công an xã V, huyện M, tỉnh Lai Châu để trình báo.

Qua điều tra, Công an xã V xác định Lò A T là người thực hiện hành vi hủy hoại tài sản. T đã thừa nhận hành vi của mình. Ngày 19/12/2024, Công an xã V chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M để giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại hiện trường, Cơ quan điều tra phối hợp với cơ quan chuyên môn tiến hành thu giữ và niêm phong các mẫu vật gồm: một ít sắn đã băm nhỏ tại nương của anh Lò A S, một ít thức ăn trong dạ dày của bốn con dê bị chết, cùng 700g hạt tinh thể màu trắng thu giữ tại nhà Lò A T. Tất cả các mẫu vật này được bảo quản theo đúng quy định và gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 10118/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của V1 Bộ C kết luận: (1) Các hạt màu trắng trong túi niêm phong mã số PS2 23024006 gửi giám định là urea (đạm u rê); (2) Các mẫu sắn băm nhỏ trong 02 túi niêm phong mã số NS2 2155630 và NS3 215678 gửi giám định đều tìm thấy urea; (3) Mẫu dịch thức ăn trong dạ dày ghi thu của 04 con dê gửi giám định đều tìm thấy amoni (NH4+). Nồng độ amoni trong 02 hộp nhựa trong túi niêm phong PS2 23024007 lần lượt là 5650 mg/l, 5935 mg/1 và trong 02 hộp nhựa trong túi niêm phong PS2 23024008 lần lượt là 6336 mg/l. 6640 mg/l. Theo tài liệu đã ghi nhận 03 trường hợp tử vong do gia súc ăn phải urea có hàm lượng amoni trong dịch dạ dày từ 1100 - 1837mg/l; (4) Amoni là thành phần của các muối amoni, đồng thời là sản phẩm thuỷ phân của urea trong dạ cỏ của dê dưới tác dụng enzyme urea. Theo tài liệu urea độc với động vật ăn cỏ (trâu, bò, ngựa, dê...); urea có liều gây độc là 0,3 - 0,5 g/kg thể trọng, liều gây chết là 1 - 1,5 g/kg thể trọng; (5) Ngoài ra trong các mẫu thức ăn trong dạ dày ghi thu của 04 con dê và các mẫu sẵn băm nhỏ trong 02 túi niêm phong mã số NS2 2155630 và NS3 215678 đều không tìm thấy các chất độc khác: xyanua. thuốc diệt chuột (các muối phốt phua, fluoroacetat, nhóm chất đông máu, tetramine), hoá chất bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, thuốc từ cô).

Tại Bản Kết luận định giá số 19/KL-HĐĐGTS ngày 23/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: "04 con dê lông màu đen, trắng (khi đã chết còn nguyên nội tạng có tổng khối lượng 67,5 kg có trị giá là 9.540.000₫ (chín triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng)".

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS-MT ngày 28/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu đã truy tố Lò A T về tội: “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Lò A T phạm tội "Hủy hoại tài sản" xử phạt bị cáo Lò A T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Giao Ủy ban nhân dân xã V, huyện M, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ. Do bị cáo làm ruộng, không có nghề nghiệp ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập. Bị cáo không có việc làm phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong do Công an huyện M phát hành bên trong đựng 500 gam đạm u rê và 01 phong bì Công văn màu trắng do Công an huyện M phát hành đã bị cắt 01 đầu; 01 con dao mũi bằng, tổng chiều dài 53 cm (cán gỗ dài 21 cm, lưỡi kim loại màu xám dài 32 cm, rộng nhất 6 cm, sống dao dày nhất 0,5 cm); 02 mảnh bạt, mỗi mảnh có một mặt màu xanh và một mặt màu cam. trong đó một mảnh có kích thước 64cm x 66cm, mành còn lại có kích thước 65cm x 66cm.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Xét lời khai nhận của bị cáo Lò A T tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bực tức, cho rằng dê của người dân trong bản thường xuyên phá hoại nương của gia đình, vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, tại bản N, xã V, huyện M, tỉnh Lai Châu, Lò A T đã thực hiện hành vi trộn đạm u rê vào sắn tươi băm nhỏ rồi đặt tại nơi dê thường xuyên qua lại với mục đích đầu độc dê. Hậu quả, hành vi của T đã làm chết 04 con dê, gây thiệt hại trị giá 9.540.000 đồng. Lò A T thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nhằm thỏa mãn bực tức cá nhân.

Bị cáo Lò A T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ việc trộn đạm u rê vào sắn tươi băm nhỏ với mục đích đầu độc dê là vi phạm pháp luật. Nhưng vì thỏa mãn bực tức cá nhân mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Hủy hoại tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít ngiêm trọng nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 BLHS.

Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Việc bị cáo phạm tội có một phần lỗi của các bị hại nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS.

Do bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 36 BLHS cho bị cáo được cải tạo không giam giữ cũng đã đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng....”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, gia đình bị thuộc diện hộ nghèo của xã. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 BLHS người bị kết án cải tạo không giam giữ còn phải thực hiện nghĩa vụ là khấu trừ thu nhập từ 05% đến 20% để sung ngân sách Nhà nước. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên cần miễn việc khấu thừ thu nhận cho bị cáo.

Do bị cáo không có việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt nên phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

[5]. Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong do Công an huyện M phát hành bên trong đựng 500 gam đạm u rê và 01 phong bì Công văn màu trắng do Công an huyện M phát hành đã bị cắt 01 đầu; 01 con dao mũi bằng, tổng chiều dài 53 cm (cán gỗ dài 21 cm, lưỡi kim loại màu xám dài 32 cm, rộng nhất 6 cm, sống dao dày nhất 0,5 cm); 02 mảnh bạt, mỗi mảnh có một mặt màu xanh và một mặt màu cam. trong đó một mảnh có kích thước 64cm x 66cm, mảnh còn lại có kích thước 65cm x 66cm đều là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6]. Về những vấn đề khác:

Đối với Lò A S, người có nương sắn nơi Lò A T đã đặt đạm u rê trộn sắn băm nhỏ để dê ăn rồi chết: Do S không biết về hành vi của T, nên Cơ quan điều tra không đề cập đến việc xử lý đối với S là đúng quy định.

[7]. Về án phí: Xét thấy gia đình bị cáo là hộ nghèo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 50; Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Lò A T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Lò A T 01 năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Lò A T cho UBND xã V, huyện M, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Lò A T. Miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

  4. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong do Công an huyện M phát hành bên trong đựng 500 gam đạm u rê và 01 phong bì Công văn màu trắng do Công an huyện M phát hành đã bị cắt 01 đầu; 01 con dao mũi bằng, tổng chiều dài 53 cm (cán gỗ dài 21 cm, lưỡi kim loại màu xám dài 32 cm, rộng nhất 6 cm, sống dao dày nhất 0,5 cm); 02 mảnh bạt, mỗi mảnh có một mặt màu xanh và một mặt màu cam. trong đó một mảnh có kích thước 64cm x 66cm, mành còn lại có kích thước 65cm x 66cm.
  5. Án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Mường Tè;
  • - Bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện;
  • - UBND xã Vàng San, huyện Mường Tè;
  • - Phân trại Mường Tè - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Văn phong Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu HS – HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đới Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hủy hoại tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 91/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger