Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 91/2025/HS-ST

Ngày 17-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Oanh Kiều.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Hồng Trang;
  2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11- Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Văn C, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1984 tại Campuchia; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Lê Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2015/HSST ngày 30-7-2015 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên và bản án hình sự phúc thẩm số 142/2015/HSPT ngày 15-9-2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo Lê Văn C 07 năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 29-01-2020; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2022/HSST ngày 19-01-2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo Lê Văn C 03 năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 10/5/2024; tiền sự: không có; nhân thân: tại Quyết định số 66/QĐ-XPVPHC ngày 04-7-2006, Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt Chanh 1.000.000 (một triệu) đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 04-7-2006; tại Quyết định số 138/QĐ-XPVPHC ngày 10-01-2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định về việc đưa người vào cơ

sở chữa bệnh tại Trung tâm G – Thành phố Hồ Chí Minh, thời hạn 24 tháng kể từ ngày 29/12/2011; Quyết định số 8217 ngày 27-12-2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định về việc áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện thời hạn 24 tháng tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Quyết định số 99/QĐ-XPHC ngày 17-6-2020 của Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt Lê Văn C 750.000 (bảy trăm năm mươi nghìn) đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, nộp phạt ngày 19-6-2020; Quyết định số 19/QĐ-XPVPHC ngày 25-8-2025 của Công an xã T, tỉnh Tây Ninh xử phạt Lê Văn C 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 15-8-2025, chuyển tạm giam từ ngày 24-8-2025 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: anh Trần Kỳ D, sinh năm 2003; nơi cư trú: ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Trương Công L, sinh năm 1978; nơi cư trú: ấp S, xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 10/8/2025, bị cáo Lê Văn C đi bộ từ nhà đến tiệm I trên đường P, thuộc ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh để chơi game. Tại đây, bị cáo C thấy anh Trần Kỳ D, sinh ngày 21/10/2003, ngụ ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh là nhân viên của quán ngồi bàn bên phải có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia IV, cảm ứng, màu đen trên bàn máy tính nên nãy sinh ý định lấy trộm. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi anh D đi giao đồ cho khách, tiệm internet không còn người trông coi thì bị cáo C lấy trộm điện thoại bỏ vào túi quần và đi bộ đến nhà anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1994, ngụ ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh để ở.

Đến khoảng 14 giờ ngày 11/8/2025, bị cáo C đem điện thoại đến tiệm điện thoại di động T&T thuộc ấp S, xã T, tỉnh Tây Ninh do anh Trương Công L, sinh năm 1978 làm chủ, bán với số tiền 700.000 đồng, khi mua điện thoại anh L không biết điện thoại do trộm cắp mà có. Số tiền bán điện thoại bị cáo C đã sử dụng vào mục đích chơi game và tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi bị mất trộm điện thoại anh D trích xuất Camera tiệm internet xác định anh Lê Văn C là người lấy trộm điện thoại nên đến Công an trình báo. Đến ngày 15/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T bắt khẩn cấp đối với bị cáo C.

* Kết quả định giá tài sản:

- Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 4332/KL-HĐĐG ngày 01/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Tây Ninh, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia IV, tại thời điểm định giá ngày 10/8/2025, có giá trị là 5.060.000 đồng.

* Kết quả kê biên tài sản:

qua xác minh bị cáo C không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.

* Phần trách nhiệm dân sự:

- Anh Trần Kỳ D đã nhận lại điện thoại, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Anh Trương Công L không yêu cầu bị cáo Lê Văn C bồi thường số tiền 700.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 06/CT-VKSKV11, ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù.

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận anh D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, anh D và anh L không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo C xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi của bị cáo thể hiện như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 10/8/2025, tại ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh, do có ý định từ trước, nên khi thấy không có người trông coi, bị cáo C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia IV của anh D, có giá trị 5.060.000 đồng. Hành vi của bị cáo C có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo C có 02 tiền án, cụ thể: Bản án Hình sự phúc thẩm số 142/2015/HSPT ngày 15/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo Lê Văn C 07 năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 29/01/2020, chưa được xóa án tích. Ngày 05/10/2021, bị cáo C tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xoá án tích. Căn cứ khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự lần phạm tội ngày 05/10/2021 của bị cáo C thuộc trường hợp

“Tái phạm”. Nay bị cáo C chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi của bị cáo C thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Do đó, bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSKV11 ngày 30-10-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo C và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất trật tự tại địa phương, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

[4.1] Tình tiết tăng nặng: không có.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4.3] Nhân thân: bị cáo C có nhân thân xấu: có 02 tiền án và nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, “đánh bạc”, nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về hình phạt áp dụng: để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài của cá nhân mà không phải lao động vất vả, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, nên xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành những công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo C không có tài sản có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony Xperia IV Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho người bị hại là phù hợp quy định pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: bị cáo C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 15/8/2025.

2. Về án phí: căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người tham gia tố tụng vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh TN;
  • - Phòng PV06 – Công an TN;
  • - VKSND khu vực 11;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh TN;
  • - Phân trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu THAHS;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Oanh Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 91/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LE VAN CHANH TROM CAP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger