Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

*****

Bản án số: 91/2025/HS-ST

Ngày: 16/06/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Bà Đặng Thị Luyến

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Bạch Lê Dũng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Tuấn Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 06 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 06 năm 2025 đối với các bị cáo:

01. Đặng Đình C, sinh năm 1988 (Tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình C1 và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có.

Danh chỉ bản số: 304 lập ngày 28/3/2025 tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 18/5/2012, Công an huyện C, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu đồng) về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 367/QĐ-XPHC ngày 18/05/2012. Đã nộp phạt ngày 21/05/2012.
  • + Ngày 22/11/2016, Công an huyện C, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 01/QĐ-XPHC ngày 22/11/2016. Đã nộp phạt ngày 24/11/2016.

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/03/2025 đến ngày 17/04/2025.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

02. Đặng Đình Đ, sinh năm 1962 (Tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình C2 và bà Nguyễn Thị N1 (đều đã chết); vợ: Lò Thị C3 (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2003).

Danh chỉ bản số: 305 lập ngày 28/3/2025 tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.

Tiền án: Có 01 tiền án: Bản án Hình sự sơ thẩm số: 15/2021/HSST ngày 03/03/2021, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Chấp hành án xong ngày 30/4/2023. Đã nộp án phí ngày 08/03/2021 (chưa được xóa án tích).

Nhân thân:

  • + Ngày 18/5/1998, Công an tỉnh H ra Quyết định khởi tố bị can về hành vi “Đánh bạc” theo Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 1985. Tuy nhiên, theo Bộ luật Hình sự năm 2015 không bị coi là tội phạm.
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 31/2007/HSST ngày 10/4/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phạt 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2011. Đã nộp án phí và truy thu tại biên lai số 1907 và 7679 ngày 25/6/2007. Đã được xóa án tích.

Tiền sự: Chưa.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/03/2025.

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

03. Nguyễn Văn C4, sinh năm 1968 (Tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị K (đều đã chết); vợ: Lê Thị Ú và 02 con (lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999).

Danh chỉ bản số: 306 lập ngày 28/3/2025 tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 52/2015/HSST ngày 09/06/2015, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 05 (Năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Đã nộp án phí ngày 28/01/2016. Đã được xóa án tích.
  • + Ngày 26/8/2016, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hà Nội ra Quyết định khởi tố bị can về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 28/12/2016, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội ra Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can số: 01/QĐ-VKS đối với Nguyễn Văn C4.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/03/2025 đến ngày 17/4/2025.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

04. Nguyễn Hữu P, sinh năm 1977 (Tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn L, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu P1 và bà Bùi Thị T; vợ: Lê Thị C5 và 02 con (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006).

Danh chỉ bản số: 155 lập ngày 09/4/2025 tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 09/01/2014, Công an huyện C, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng tiền 1.500.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu, năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 143/QĐ-XPVPHC ngày 09/01/2014. Đã nộp phạt ngày 16/01/2014 (đã xóa tiền sự).

Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/03/2025 đến ngày 21/03/2025.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn L, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

05. Nguyễn Văn K1, sinh năm 1973 (Tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N2 và bà Hà Thị T1 (đều đã chết); vợ: Lương Thị T2 và 03 con (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2015).

Danh chỉ bản số: 156 lập ngày 09/4/2025 tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/9/2011, Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) về hành vi xúi giục người khác đánh nhau. Đã nộp phạt ngày 22/9/2011 (đã xóa tiền sự).

Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/03/2025 đến ngày 27/03/2025.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

06. Nguyễn Văn K2, sinh năm 1973 (Tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C6 và bà Đặng Thị T3 (đều đã chết); vợ: Nguyễn Thị H và 02 con (lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000).

Danh chỉ bản số: 154 lập ngày 09/4/2025 tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/03/2025 đến ngày 24/03/2025.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

07. Nguyễn Văn K1, sinh năm 1975 (Tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4 và bà Đặng Thị C7; vợ: Lê Thị N3 và 03 con (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2007).

Danh chỉ bản số: 152 lập ngày 09/4/2025 tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/03/2025 đến ngày 21/03/2025.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

08. Trịnh Thanh L1, sinh năm 1990 (Tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn L, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Viết P2 và bà Phạm Thị K3; vợ: Nguyễn Thị Hằng N4 và 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017).

Danh chỉ bản số: 153 lập ngày 09/4/2025 tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/03/2025 đến ngày 21/03/2025.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn L, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

09. Đặng Đình Đ1, sinh năm 1971 (Tên gọi khác: Không).

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình Đ2 (đã chết), con bà Nguyễn Thị N5; vợ: Lê Thị H1 và 03 con (lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2006).

Danh chỉ bản số: 151 lập ngày 09/4/2025 tại Trại tạm giam số 02 – Công an Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 19/03/2025 đến ngày 27/03/2025.

Bị cáo hiện tại ngoại tại: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Anh Lê Duy K4, sinh năm 1994

Trú tại: thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/03/2025, Đặng Đình C đang ở nhà thì lần lượt có Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973), Đặng Đình Đ1 và Nguyễn Văn C4 đến nhà Đặng Đình C ngồi chơi uống nước. Sau đó, các đối tượng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Tá lả” và xin Cư cho đánh bạc tại nhà, C đồng ý cho đánh bạc rồi lấy dụng cụ đánh bạc với mục đích hưởng lời từ việc thu tiền “Gà“ từ các đối tượng đánh bạc. Cư lấy 02 bộ bài tú lơ khơ (Trong đó: 01 bộ màu đỏ, 01 bộ màu xanh), trải thảm nỉ, để 01 thùng nhựa màu xanh cạnh chiếu bạc cho các đối tượng bỏ tiền “Gà” vào khi ù. Số tiền trong thùng nhựa cuối buổi chơi thì C là người được hưởng.

Tiếp đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, tiếp tục lại có các đối tượng Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Nguyễn Hữu P, Đặng Đình Đ và Trịnh Thanh L1 đến nhà Đặng Đình C chơi. Các đối tượng thấy 04 người đang đánh bạc ăn tiền bằng hình thức chơi “Tá lả ” thì cũng rủ nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức chơi “Sâm”, được C đồng ý cho chơi đánh bạc tại nhà, C lấy 01 bộ tú lơ khơ, trải 01 thảm nỉ cạnh chiếu bạc chơi “Tá lả” cho các đối tượng ngồi chơi “Sâm” sát phạt nhau bằng tiền. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, thì bị Công an xã L, huyện C bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Cụ thể như sau:

* Chiếu bạc thư nhất, chơi “Tá lả”:

Có 04 đối tượng gồm Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973), Đặng Đình Đ1, Nguyễn Văn C4 ngồi đánh bạc bằng hình thức chơi “Tá lả” được thua bằng tiền. Các đối tượng sử dụng bộ bài Tú-Lơ-Khơ gồm 52 quân bài làm dụng cụ đánh bạc và quy ước, ai về nhất thì ván tiếp theo người về nhất sẽ được chia bài, chia cho mỗi người 09 lá bài, riêng người chia bài là 10 lá bài, số bài còn lại để ở giữa thảm làm nọc. Người được 10 lá bài sẽ đánh đầu tiên, người chơi tiếp theo có thể ăn lá bài hoặc bốc bài ở nọc và đánh theo vòng ngược chiều kim đồng hồ. Nếu ai ăn lá bài ở vòng cuối gọi là ăn chốt. Người chơi có thể xếp toàn bộ bài trên tay thành các bộ “Phỏm”, thông thường có 03 phỏm gọi là Ù hoặc hết ván chơi cộng điểm ai ít điểm nhất là người về nhất và người ít điểm tiếp theo là về nhì, về ba, về tư. Quy định thắng thua như sau: Người về nhất hoặc Ù thắng được lấy tiền của 03 người còn lại. Ai được Ù thắng bạc, ba người còn lại phải trả cho người Ù 200.000 đồng, Ù đền 600.000 đồng. Ai về nhì phải trả cho người nhất 50.000 đồng, ai về ba phải trả cho người nhất 100.000 đồng, ai về bét phải trả cho người nhất 150.000 đồng, ai móm (không có phỏm) phải trả cho người nhất 200.000 đồng, ai bị ăn chốt phải trả cho người ăn 200.000 đồng. Nếu ai Ù phải bỏ ra 50.000 đồng tiền “Gà” vào thùng nhựa cho chủ nhà Đặng Đình C được hưởng. Thấy lực lượng Công an đến, Nguyễn Văn C4 bỏ chạy, đến ngày 19/03/2025, C4 ra đầu thú và tự nguyện giao nộp lại số tiền 910.000 đồng là tiền đánh bạc cầm khi bỏ chạy. Công an xã L bắt giữ quả tang các đối tượng đánh bạc, thu giữ các vật chứng gồm:

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) thùng nhựa màu xanh bên trong có 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền hưởng lợi của Đặng Đình C.
  • - 01 (một) thảm nỉ.
  • - 02 (hai) bộ bài Tú-Lơ-Khơ mỗi bộ gồm 52 quân bài. Trong đó: 01 bộ màu đỏ, 01 bộ màu xanh.
  • - Tổng số tiền thu giữ: 5.260.000 đồng (Năm triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng). Trong đó bao gồm: 3.640.000 đồng (Ba triệu, sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) thu tại chiếu bạc; thu trên người Nguyễn Văn K2 1.550.000 đồng (Một triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng); thu trên người Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973) số tiền 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng).
  • - Nguyễn Văn C4 tự nguyện giao nộp 910.000 đồng (Chín trăm mười nghìn đồng).

* Chiếu bạc thứ hai, chơi “Sâm”:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/3/2025, 04 đối tượng gồm Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Nguyễn Hữu P, Đặng Đình Đ, Trịnh Thanh L1 đến nhà Đặng Đình C ngồi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức chơi “Sâm”. Cư lấy 01 bộ tú lơ khơ, trải 01 thảm nỉ cạnh chiếu bạc thứ nhất cho các đối tượng đánh bạc ăn tiền nhằm thu tiền “Gà” từ đối tượng đánh bạc.

Các đối tượng quy ước cách thức như sau: Đánh bạc dưới hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền, sử dụng bộ tú lơ khơ 52 quân bài và tự chia bài. Chia bài cho mỗi người đủ 10 quân bài. Người có lá bài nhỏ nhất sẽ được quyền đi đầu tiên, bắt đầu từ ván thứ hai trở đi, ai giành chiến thắng ở ván trước thì sẽ đi lá bài đầu tiên. Độ lớn của các quân bài theo thứ tự: 3 < 4< 5< 6< 7< 8< 9< 10< J< Q< K<A<2 không phân biệt các chất cơ, rô, tép, bích của các con bài. Báo “Sâm” nghĩa là dùng khi lên bài mà chắc chắn rằng sẽ không ai bắt được số bài mà người chơi sẽ đánh ra, đồng nghĩa với việc người chơi sẽ được ưu tiên đánh trước. “Sâm rồng” là 10 cây liên tiếp không cần cùng chất. Nếu nhiều người cùng báo “Sâm” thì ai báo “Sâm” trước sẽ được đánh trước. Nếu không đánh được quân bài nào thì gọi là “Lủng”. Quy ước 10.000 đồng/một lá bài, báo “Sâm” 200.000 đồng, báo “Sâm rồng” 300.000 đồng. Nếu lủng thì thua 100.000 đồng. Nếu ai được “Sâm” thì sẽ bỏ ra 20.000 đồng cho chủ nhà hưởng, ai được “Sâm rồng” thì bỏ ra 30.000 đồng cho chủ nhà hưởng. Nếu ván có người “Lủng” thì người về nhất gọi là bắt lủng và sẽ bỏ ra 30.000 đồng cho chủ nhà hưởng.

Khi các đối tượng đang đánh bạc thì có Lê Như K5 đi đến chơi, ngồi uống nước và xem mọi người đánh bạc, K5 không tham gia đánh bạc. Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, Công an xã L đến bắt giữ quả tang các đối tượng đánh bạc, thu giữ các vật chứng gồm:

*Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài.
  • - 01 (một) thảm nỉ.
  • - Tổng số tiền thu giữ: 5.210.000 đồng (Năm triệu, hai trăm mười nghìn đồng). Trong đó bao gồm: 3.780.000 đồng (Ba triệu, bảy trăm tám mươi nghìn đồng) thu tại chiếu bạc; thu trên người Đặng Đình Đ 1.430.000 đồng (Một triệu, bốn trăm ba mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra xác định hành vi cụ thể của các bị cáo như sau:

  1. Đặng Đình C đồng ý cho 08 đối tượng tham gia đánh bạc được thua bằng tiền tại nhà ở của mình. Tại hai chiếu bạc, C cung cấp các bộ bài tú lơ khơ, chải 02 thảm nỉ và để 01 thùng nhựa giữa 02 chiếu bạc để thu tiền “Gà”. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc trên 02 chiếu bạc tại nhà C là: 11.630.000 đồng (Bằng chữ: Mười một triệu, sáu trăm ba mươi nghìn đồng), trong đó có 250.000 đồng tiền “Gà” Cư được hưởng.
  2. Nguyễn Văn C4 mang theo số tiền 700.000 đồng và vay Cư 1.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc bằng hình thức chơi “Tá lả”. Khi bị bắt C4 bỏ chạy thoát, đến ngày 19/3/2025 C4 ra đầu thú và giao nộp số tiền 910.000 đồng.
  3. Nguyễn Văn K2 mang theo số tiền 2.100.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích chơi “Tá lả” ăn tiền. Kim ù 02 lần, bỏ ra ngoài 100.000 đồng tiền “Gà” vào thùng cho C hưởng. Khi bị bắt thu trên người Kim 1.550.000 đồng.
  4. Đặng Đình Đ1 mang theo số tiền 500.000 đồng và vay của C 1.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt Đ1 bỏ toàn bộ tiền xuống chiếu bạc, không rõ thắng thua.
  5. Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973) mang theo số tiền 70.000 đồng và vay Cư 1.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích chơi “Tá lả” ăn tiền. K1 ù 02 lần, bỏ ra ngoài 100.000 đồng tiền “Gà” vào thùng cho C hưởng. Khi bị bắt thu trên người Khôi 70.000 đồng.
  6. Đặng Đình Đ mang theo số tiền 1.500.000 đồng sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc bằng hình thức chơi “Sâm” ăn tiền. Khi bị bắt thu giữ trên người Đường 1.430.000 đồng.
  7. Nguyễn Hữu P mang theo số tiền 760.000 đồng sử dụng toàn bộ vào mục đích chơi “Sâm” ăn tiền. Khi bị bắt P bỏ tiền xuống dưới chiếu bạc, không rõ thắng thua.
  8. Trịnh Thanh L1 vay của C số tiền 1.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích chơi “Sâm” ăn tiền. L1 chặn sâm 01 lần, bỏ ra ngoài 30.000 đồng tiền “Gà” vào thùng cho C hưởng. Khi bị bắt L1 bỏ toàn bộ tiền xuống dưới chiếu bạc, không rõ thắng thua.
  9. Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975) vay của C số tiền 1.500.000 đồng sử dụng toàn bộ vào mục đích chơi “Sâm” ăn tiền. K1 chặn sâm 01 lần, bỏ ra ngoài 30.000 đồng tiền “Gà” vào thùng cho C hưởng. Khi bị bắt K1 bỏ toàn bộ tiền xuống dưới chiếu bạc, không rõ thắng thua.

Như vậy, xác định Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc ở 02 chiếu bạc là: 11.630.000 đồng (Mười một triệu, sáu trăm ba mươi nghìn đồng).

Với những hành vi của các bị cáo như đã nêu trên, Cáo trạng số: 76/CT-VKS ngày 02/06/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố:

  • + Bị cáo Đặng Đình C về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự;
  • + Các bị cáo: Đặng Đình Đ, Nguyễn Văn C4, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973), Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Trịnh Thanh L1 và Đặng Đình Đ1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã quy kết và đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố: Bị cáo Đặng Đình C phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo: Đặng Đình Đ, Nguyễn Văn C4, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973), Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Trịnh Thanh L1 và Đặng Đình Đ1 phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Đặng Đình C từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Đặng Đình Đ từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/03/2025.
  • * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn C4 từ 07 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/03/2025 đến ngày 17/04/2025.
  • * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Hữu P từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973) từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • * Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
  • + Nguyễn Văn K2 từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975) từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Trịnh Thanh L1 từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Đặng Đình Đ1 từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với tất cả các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy các dụng cụ đánh bạc đã thu giữ bao gồm: 03 (ba) bộ bài T5-Lơ-Khơ, mỗi bộ gồm 52 quân bài; 02 (hai) thảm nỉ; 01 (một) thùng nhựa màu xanh.
  • + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 11.630.000 đồng.

Về án phí: Các bị cáo: Đặng Đình C, Đặng Đình Đ, Nguyễn Văn C4, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973), Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Trịnh Thanh L1 và Đặng Đình Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam; thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người làm chứng, thu giữ vật chứng, giao nhận các văn bản tố tụng cho các bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với các bị can. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/03/2025, tại nhà ở của Đặng Đình C thuộc thôn Ứ, xã L, huyện C, Thành phố Hà Nội. Đặng Đình C đã đồng ý cho 08 đối tượng gồm: Đặng Đình Đ, Nguyễn Văn C4, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn K1 (1973), Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (1975), Trịnh Thanh L1 và Đặng Đình Đ1 sử dụng nhà ở của Đặng Đình C đánh bạc được thua bằng tiền trên 02 chiếu bạc tại nhà để C hưởng lợi 250.000 đồng từ việc thu tiền “Gà” của các đối tượng đánh bạc. Cư cung cấp 03 bộ bài tú lơ khơ, 02 thảm nỉ và 01 thùng nhựa đựng tiền “Gà” để giữa 02 chiếc bạc.

Tại chiếu bạc thứ nhất có Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973), Đặng Đình Đ1 và Nguyễn Văn C4 đánh bạc dưới hình thức đánh “Tá lả” được thua bằng tiền với tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 6.370.000 đồng (Bằng chữ: Sáu triệu, ba trăm bảy mươi nghìn đồng).

Tại chiếu bạc thứ hai có Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Nguyễn Hữu P, Đặng Đình Đ và Trịnh Thanh L1 đánh bạc dưới hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền với tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 5.260.000 đồng (Bằng chữ: Năm triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

Đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, các đối tượng bị Công an xã L, huyện C bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Nguyễn Văn C4 bỏ chạy thoát, đến ngày 19/3/2025, C4 ra đầu thú và nộp lại số tiền đánh bạc 910.000 đồng.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc tại 02 chiếu bạc là: 11.630.000 đồng (Bằng chữ: Mười một triệu, sáu trăm ba mươi nghìn đồng).

  • + Hành vi của Đặng Đình C với vai trò là chủ nhà đã đồng ý cho 08 (tám) bị cáo khác sử dụng nhà ở của mình để đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền; C trực tiếp cung cấp dụng cụ cho các bị cáo khác đánh bạc với mục đích thu tiền “gà” từ các đối tượng đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo đánh bạc tại 02 chiếu bạc là 11.630.000 đồng (Bằng chữ: Mười một triệu, sáu trăm ba mươi nghìn đồng). Hành vi mà Đặng Đình C thực hiện đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” với tình tiết “Tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
  • + Các bị cáo: Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973), Đặng Đình Đ1 và Nguyễn Văn C4 tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh “Tá lả” được thua bằng tiền với tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 6.370.000 đồng (Bằng chữ: Sáu triệu, ba trăm bảy mươi nghìn đồng) và các bị cáo Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Nguyễn Hữu P, Đặng Đình Đ và Trịnh Thanh L1 đánh bạc dưới hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền với tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 5.260.000 đồng (Bằng chữ: Năm triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng) đã phạm tội “Đánh bạc” với tình tiết “...tiền hay hiện vật giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..." theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Do vậy, Cáo trạng số: 76/CT-VKS ngày 02/06/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội đã truy tố: Bị cáo Đặng Đình C về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo: Đặng Đình Đ, Nguyễn Văn C4, Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973), Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Trịnh Thanh L1, và Đặng Đình Đ1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2]. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án:

  • + Bị cáo Đặng Đình C là chủ nhà đã đồng ý cho 08 bị cáo khác sử dụng nhà ở của mình để đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, các đối tượng tham gia đánh bạc tại 02 chiếu bạc có tổng số tiền là 11.630.000 đồng. Bị cáo Đặng Đình C có nhân thân xấu, ngày 18/05/2012, Công an huyện C, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu đồng) về hành vi “Đánh bạc”; ngày 22/11/2016, Công an huyện C, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Mặc dù đã được xóa từ lâu nhưng cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật.
  • + Bị cáo Đặng Đình Đ tham gia đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo đã có 01 tiền án, Bản án Hình sự sơ thẩm số: 15/2021/HSST ngày 03/03/2021, Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội mới do cố ý, lần phạm tội này của bị cáo được coi là tái phạm. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn C4 tham gia đánh bạc với số tiền 1.700.000 đồng, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 05 tháng từ về tội “Đánh bạc” vào năm 2015 và năm 2016 bị Công an huyện C khởi tố về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo đã có thời gian được cải tạo, giáo dục nhưng không chịu tu dưỡng bản thân để trở thành người công dân tốt, nay lại tiếp tục phạm tội mới do cố ý. Do vậy, cũng cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật.
  • + Bị cáo Nguyễn Hữu P tham gia đánh bạc với số tiền 760.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn K1 (1973) tham gia đánh bạc với số tiền 1.070.000 đồng. Cả hai bị cáo Nguyễn Hữu P và bị cáo Nguyễn Văn K1 (1973) đều có nhân thân bị xử lý hành chính đã được xóa từ lâu (14 năm). Do vậy, cũng cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt.
  • + Các bị cáo Nguyễn Văn K2 tham gia đánh bạc với số tiền 2.100.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn K1 (1975) tham gia đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo Trịnh Thanh L1 tham gia đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo Đặng Đình Đ1 tham gia đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng. Do vậy, cũng cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt.

[2.4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đặng Đình Đ đã có tiền án về tội “Tổ chức đánh bạc” chưa được xóa án. Nay lại tiếp tục phạm tội mới do cố ý là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[2.5] Về tình tiết giảm nhẹ:

  • + Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn C4 sau khi bỏ chạy đã đến Cơ quan Công an đầu thú; bị cáo Đặng Đình C là lao động chính trong gia đình và có mẹ bị bệnh (có xác nhận của chính quyền địa phương) là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
  • + Các bị cáo: Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Trịnh Thanh L1, và Đặng Đình Đ1 nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • + Bị cáo Đặng Đình C có hành vi cho các bị cáo khác đánh bạc tại nhà ở của mình một phần là do nể nang vì các bị cáo tham gia đánh bạc đều là người cùng thôn với và một số bị cáo trong nhóm đánh bạc có quan hệ họ hàng, các bị cáo đến nhà bị cáo là do mẹ bị cáo mới đi bệnh viện về nên đến để hỏi thăm, bị cáo không rủ rê lôi kéo các bị cáo khác đến nhà bị cáo để đánh bạc, việc các bị cáo bỏ tiền “Gà” là do các bị cáo đánh bạc tự nguyện. Bị cáo phạm tội lần đầu và đã tỏ rõ sự ăn năn hối cải, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
  • + Các bị cáo Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973), Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Trịnh Thanh L1, Đặng Đình Đ1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Xét các bị cáo Nguyễn Hữu P, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973), Nguyễn Văn K2, Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975), Trịnh Thanh L1, Đặng Đình Đ1 đều có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 và khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự, các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; bị cáo phạm tội “Tổ chức đánh bạc” còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Xét các bị cáo trong vụ án đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo.

[3]. Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu hủy các dụng cụ đánh bạc đã thu giữ bao gồm: 03 (ba) bộ bài Tú-Lơ-Khơ, mỗi bộ gồm 52 quân bài; 02 (hai) thảm nỉ; 01 (một) thùng nhựa màu xanh.

(Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/06/2025 giữa Phòng PC02 Công an Thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội).

  • + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 11.630.000 đồng (Bằng chữ: Mười một triệu, sáu trăm ba mươi nghìn đồng). Hiện gửi tại tài khoản số 3949.0.1052753 tại K – Phòng giao dịch số A – Kho bạc Nhà nước khu vực I – 0039 (Theo ủy nhiệm chi ngày của Công an Thành phố H).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Đặng Đình C(01) phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Đặng Đình Đ(02), Nguyễn Văn C4(03), Nguyễn Hữu P(04), Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973)(05), Nguyễn Văn K2(06), Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975)(07), Trịnh Thanh L1 (08), Đặng Đình Đ1 (09) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Các bị cáo: Đặng Đình C(01) phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Đặng Đình Đ(02), Nguyễn Văn C4(03), Nguyễn Hữu P(04), Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1973)(05), Nguyễn Văn K2(06), Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1975)(07), Trịnh Thanh L1 (08), Đặng Đình Đ1(09) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 91/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger