Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/HS-ST

Ngày: 11/6/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Anh Thư.
  2. Bà Hồ Bích Ngọc.

- Thư ký phiên tòa:

  • + Tại điểm cầu trung tâm – Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Cao Thị Mỹ T – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • + Tại điểm cầu thành phần – Trại tạm giam C - phân trại tạm giam khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đỗ Minh P – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:

  • + Tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Nhật T1 - Kiểm sát viên.
  • + Tại điểm cầu thành phần – Trại tạm giam C - phân trại tạm giam khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Phạm Hoàng H – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Trại tạm giam C - phân trại tạm giam khu vực Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vụ án hình sự thụ lý số: 99/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 05 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân T2. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1984. Tại: tỉnh Đồng Tháp. Hộ khẩu thường trú: T5 Võ Văn K, khu phố D, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Không. Họ tên C: Nguyễn Huỳnh H1 (không rõ năm sinh); họ tên M: Nguyễn Thị Tuyết N (không rõ năm sinh); bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Chồng, con: Không có.

- Nhân thân:

Ngày 28/9/2002, bị bắt về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán

trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 42/HSST ngày 27/01/2003), chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/12/2004, đã xóa án tích.

Ngày 29/6/2011, bị Ủy ban nhân dân Quận A ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc (theo Quyết định số 3779/QĐ).

- Tiền án - Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 13/01/2025 đến nay.

Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ C – phân trại tạm giam khu vực Quận A.

Người bị hại:

  1. BàKim Ngân, sinh năm 2006 - (Vắng mặt);
  2. Địa chỉ: 7 Khu phố D, Dương Cát L, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Nguyễn Khánh N1, sinh năm: 2006 - (Vắng mặt);
  4. Địa chỉ: Số E đường H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Hộ kinh doanh Đức Thắng Mobile- do ông Nguyễn Đức T3 năm 1998; địa chỉ kinh doanh: H H, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ cư trú: A N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh - (Vắng mặt);
  2. Ông Trần Văn N2, sinh năm: 1971- (Vắng mặt);
  3. Địa chỉ: Ấp H, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền tiêu xài nên Nguyễn Xuân T2 nảy sinh ý định tìm người có tài sản để sơ hở thì chiếm đoạt. Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 03/01/2025, T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 67N6 – 2519 đến gửi tại cửa Đông chợ B rồi đi bộ đến cửa N chợ B, phường B, Quận A. Lúc này, T2 phát hiện ở khu vực tiểu đảo trước cửa chợ B có 01 ba lô của chị Nguyễn Kim N3 bên trong có: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu đen của chị N3 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung của chị Nguyễn Khánh N1 (là bạn của chị N3) không có người trông coi nên T2 lén lút lấy ba lô rồi quay lại cửa Đông chợ B sau đó điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, T2 kiểm tra ba lô thì phát hiện bên trong có 03 điện thoại di động nên T2 đi tìm nơi để bán. Khi đến cửa hàng Đ, số H H, Phường D, Quận E, T2 hỏi bán cho Nguyễn Đức T4 (là chủ cửa hàng) 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen; T2 nói T4 các điện thoại di động trên là của người nhà bị quên mật khẩu nên T4 đồng ý mua 02 điện thoại di động với giá 1.000.000 đồng. T2 tiếp tục điều khiển xe mô tô đến khu vực Cầu Ô, Quận A vứt ba lô chiếm đoạt được xuống sông rồi đến một công viên tại Quận H (không nhớ địa chỉ); T2 đã thỏa thuận bán điện thoại di động hiệu Samsung cho 01 đối tượng nam (chưa rõ lai lịch) với giá 500.000 đồng, T2 đã tiêu xài hết 1.500.000 đồng trên.

Qua điều tra, xác định Nguyễn Xuân T2 là người đã thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Q đã đưa T2 về trụ sở để điều tra làm rõ.

Theo Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 09/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A1 kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 12 màu đen 64GB trị giá 6.000.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu đen trị giá 5.200.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung A53 màu hồng 128GB trị giá 4.200.000 đồng; 01 balo vải màu đen: từ chối định giá.

Quá trình điều tra, Nguyễn Xuân T2 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản thực nghiệm điều tra; biên bản kiểm tra camera; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan Điều tra thu thập.

Đối với Nguyễn Đức T4 – Chủ hộ kinh doanh Đ, qua điều tra xác định T4 không biết các tài sản do T2 bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Điều tra không xử lý là có cơ sở.

Tại Bản cáo trạng số: 102/CT-VKS-Q1 ngày 06/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T2. Bị cáo T2 đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: biên bản xác định địa điểm, biên xác nhận bản ảnh, lời khai của người các bị hại, người làm chứng nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng phát biểu quan điểm luận tội: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vụ án không có đồng phạm. Về nhân thân, bị cáo từng bị xử phạt 02 (hai) năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ bị cáo không có tiền án tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T2 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Bị cáo không có nơi cư trú ổn định, không có việc làm ổn định nên đề nghị miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Đối với Nguyễn Đức T4 qua điều tra xác định T4 không biết các tài sản do T2 bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở.

* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Khánh N1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.200.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại (còn lại chưa thu hồi được) theo kết luận định giá của Hội đồng định giá chưa thu hồi được. Bị cáo đồng ý bồi thường, đây là thoả thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại nên ghi nhận. Bị hại Nguyễn Kim N3 và ông Nguyễn Đức T4 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 64Gb đã thu hồi trả lại cho bị hại Nguyễn Kim N3 và 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max màu đen đã thu hồi trả

cho Nguyễn Khánh N1, bị hại N1 và N3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.

Vật chứng vụ án, thu giữ được của Nguyễn Xuân T2:

- Đối với 01 (một) xe mô tô ve biển kiểm soát 67N6 – 2519, qua xác minh do ông Trần Văn N2 đứng tên chủ sở hữu; ông N2 khai đã bán xe cho một người (chưa rõ lai lịch) vào năm 2021, không có giấy tờ mua bán. Bị cáo T2 khai mua xe mô tô của 01 người nam (chưa rõ lai lịch), không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả nên tiếp tục tạm giữ hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo lần đầu là ngày 03/4/2025 nếu vẫn không tìm được chủ sở thữu thì tịch thu sung quỹ. Trường hợp, có phát sinh tranh chấp về sở hữu được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

Hiện Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H đang tạm giữ các vật chứng trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân T2 đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, tờ tự khai, biên bản bắt người phạm tội, kết luận định giá tài sản... nên có đủ căn cứ, kết luận: Vào ngày 03/01/2025 tại khu vực tiểu đảo trước cửa N chợ B, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Xuân T2 có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu đen của chị Nguyễn Kim N3 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung của chị Nguyễn Khánh N1, tổng trị giá tài sản là 15.400.000 đồng, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao. Vì động cơ, mục đích muốn có tiền tiêu xài nhưng lại lười lao động, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm, vụ án không có đồng phạm bị cáo T2 là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội, trị an tại địa phương.

[4]. Về nhân thân của bị cáo: Ngày 28/9/2002, bị bắt về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 42/HSST ngày 27/01/2003, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/12/2004, đã xóa án tích. Đồng thời, ngày 29/6/2011,

bị Ủy ban nhân dân Quận A ra Quyết định số 3779/QĐ-UB đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự 2015 xem xét giảm một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[6]. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét, tính chất mức độ, hành vi phạm tội và hoàn cảnh gia đình của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Đối với ông Nguyễn Đức T4 – Chủ hộ kinh doanh Đức Thắng M, qua điều tra xác định T4 không biết các tài sản do T2 bán là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở.

[8]. Về yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Khánh N1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.200.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại (còn lại chưa thu hồi được) theo kết luận định giá của Hội đồng định giá chưa thu hồi được. Bị cáo đồng ý bồi thường, đây là thoả thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại nên ghi nhận.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 64Gb đã thu hồi trả lại cho bị hại Nguyễn Kim N3 và 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max màu đen đã thu hồi trả cho Nguyễn Khánh N1. Các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm bồi thường nên đề nghị không xem xét.

Đối với ông Nguyễn Đức T4 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng vụ án, thu giữ của Nguyễn Xuân T2:

- Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 67N6 – 2519, qua xác minh do ông Trần Văn N2 đứng tên chủ sở hữu; ông N2 khai đã bán xe cho một người (chưa rõ lai lịch) vào năm 2021, không có giấy tờ mua bán. Bị cáo T2 khai mua xe mô tô của 01 người nam (chưa rõ lai lịch), không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả nên tiếp tục tạm giữ hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo lần đầu là ngày 03/4/2025 nếu vẫn không tìm được chủ sở thữu thì tịch thu sung quỹ Nhà nước. Trường hợp, có phát sinh tranh chấp về sở hữu được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

[9]. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và các đương sự khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Xuân T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 11/6/2025.
  2. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T2 phải bồi thường cho bà Nguyễn Khánh N1 số tiền 4.200.000 (bốn triệu hai trăm nghìn) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
    • - Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 67N6 – 2519 (số máy: VKVLM1P52FMHF204431; số khung: RMKWCH2UM7K204431, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong máy) qua xác minh do ông Trần Văn N2 đứng tên chủ sở hữu; ông N2 khai đã bán xe cho một người (chưa rõ lai lịch) vào năm 2021, không có giấy tờ mua bán. Bị cáo T2 khai mua xe mô tô của 01 người nam (chưa rõ lai lịch), không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả nên tiếp tục tạm giữ hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo lần đầu là ngày 03/4/2025 nếu vẫn không tìm được chủ sở thữu thì tịch thu sung quỹ nhà nước. Trường hợp, có phát sinh tranh chấp về sở hữu được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
    • - Tiếp tục lưu giữ 01 USB ghi nhận hình ảnh thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.
    • (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 08/2025/PNK-PTTGKVQ1 ngày 06/06/2025 của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an, Thành phố H).

  4. Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Xuân T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
  5. Áp dụng vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

5. Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 1, TP. HCM;
  • - Chi cục THADS Q.1, TP. HCM;
  • - Công an Quận 1, TP. HCM;
  • - Phòng PC 53;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án. (15b).

TAND QUẬN 1

MQ3110625.TL.QDBA

11042

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Minh Hoàng Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 91/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T có hành vi trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger