Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/HS-PT

Ngày 30 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo;
  • - Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà; Bà Nguyễn Thị Hương Giang
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim H - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 30/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 112/2025/TLPT-HS ngày 05/6/2025 đối với bị cáo Nguyễn Trọng V do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2025/HS-ST ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trọng V, sinh năm 1996; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Nguyễn Trọng V1, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; Vợ Đỗ Hoài A, sinh năm 1996; Con có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2024 đến ngày 13/12/2024. Hiện tại ngoại, (có mặt).

Trong vụ án còn có bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Trọng V, sinh năm 1996, trú tại tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang làm nhân viên IT của Công ty trách nhiệm hữu hạn J (viết tắt là Công ty J), địa chỉ ở khu công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang từ tháng 01 năm 2024. Khoảng 07 giờ ngày 12/11/2024, V điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 98B2-726.75 mượn của bố đẻ là ông Nguyễn Trọng V1, sinh năm 1973 đến Công ty J làm việc. Quá trình làm việc, V thấy trong phòng kho của bộ phận IT tại tầng 2 của Công ty J để nhiều máy tính xách tay chưa sử dụng, do Công ty mua về để cấp phát cho nhân viên. Lúc này, V nảy sinh ý định trộm cắp máy tính xách tay nêu trên để đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 10 giờ cùng ngày, trong lúc làm việc tại bộ phận IT ở tầng 1 của công ty, V sử dụng máy tính do Công ty cấp trước đó, truy cập vào hệ thống camera giám sát rồi tắt các camera ở khu vực phòng kho của bộ phận IT ở tầng 2. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi ăn cơm xong, V gặp chị Vũ Thị Quỳnh L, sinh năm 1991, trú tại thôn G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là nhân viên cùng bộ phận IT và quản lý máy tính trong kho mượn chìa khóa phòng kho của bộ phận IT ở tầng 2 Công ty để ngủ trưa. Do trước đó, chị L vẫn cho V ngủ trong phòng kho nên đồng ý cho V mượn chìa khóa. V một mình cầm chìa khóa mở cửa phòng kho ở tầng 2 của bộ phận IT, thấy xung quanh và trong kho không có người; V lấy trộm 05 chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Lenovo Thinkpad X13 Gen 4 Core i5 ở trong kho cất giấu vào trong chiếc ba lô của V đem theo trước đó. Tiếp đó, V xách ba lô đựng máy tính trộm cắp được mang xuống để trên xe mô tô của V dựng ở nhà xe Công ty, mục đích đợi sau khi hết giờ làm việc thì đem khỏi Công ty. Sau đó, V quay lại phòng kho của bộ phận IT ở tầng 2 Công ty ngủ trưa như bình thường. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi nghỉ trưa xong, V quay lại phòng làm việc sử dụng máy tính nêu trên bật lại các camera đã tắt trước đó và làm việc bình thường. Khoảng 17 giờ cùng ngày, khi hết giờ làm việc, V điều khiển xe mô tô mang theo ba lô đựng 05 chiếc máy tính xách tay đã trộm cắp đi về nhà rồi cất giấu dưới gầm bàn làm việc của V. Ngày 15/11/2024, V sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax của V đăng nhập vào mạng xã hội facebook liên lạc với tài khoản facebook “Đình Huynh” của anh Đỗ Đình H1, sinh năm 1992, ở số nhà C, đường G, phường P, quận T, thành phố Hà Nội để trao đổi bán hai chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Lenovo Thinkpad X13 Gen 4 Core i5 trộm cắp, anh H1 đồng ý mua hai máy tính xách tay trên với giá 11.500.000 đồng/chiếc. Sau đó, V đi xe tắc xi đến khu vực đường G, thành phố Hà Nội để giao dịch và bán 02

2

chiếc máy tính xách tay trên cho anh H1 được tổng cộng 23.000.000 đồng tiền mặt, khi bán máy tính xách tay Việt nói dối là tài sản của V được công ty tặng thưởng, do không có nhu cầu sử dụng nên bán. Tiếp đó, ngày 20/11/2024, do có quen biết với anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang có cửa hàng mua bán, sửa chữa máy tính, V mang hai chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Lenovo Thinkpad X13 Gen 4 Core i5 trộm cắp được đi xe tắc xi đến cửa hàng của anh H2 để bán. Khi bán máy tính, V tiếp tục nói dối là tài sản của V được công ty tặng thưởng, do không có nhu cầu sử dụng nên bán, nên anh H2 đồng ý mua hai chiếc máy tính xách tay nêu trên với giá 11.000.000 đồng/chiếc. Anh H2 đưa cho V 22.000.000 đồng tiền mặt, V đếm đủ tiền rồi đi về nhà. Trên đường đi về nhà, V vứt bỏ chiếc ba lô đựng tài sản trộm cắp vào bãi rác trên đường. Chiếc máy tính xách tay còn lại, V giữ lại để sử dụng. Sau khi mua 02 máy tính xách tay của V, anh H2 đã bán lại cho người không biết họ tên, địa chỉ ở đâu.

Ngày 03/12/2024, chị Vũ Thị Quỳnh L tiến hành kiểm tra máy tính trong kho của bộ phận IT ở tầng 2 của Công ty J thì phát hiện mất trộm 05 chiếc máy tính xách tay nêu trên nên báo lại sự việc cho Công ty. Ngày 04/12/2024, anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984, trú tại phố N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, là người đại diện theo ủy quyền của Công ty J trình báo Đồn Công an Q1 về việc bị trộm cắp máy tính xách tay nêu trên.

Ngày 06/12/2024, biết hành vi phạm tội đã bị phát hiện, Nguyễn Trọng V đến Đồn Công an Q1 để đầu thú, khai nhận về hành vi trộm cắp máy tính xách tay nêu trên của Công ty J và giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh; 01 chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Lenovo Thinkpad X13 Gen 4 Core i5 đã trộm cắp của Công ty. Sau đó, Q1 đã bàn giao V cùng vật chứng và tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra Công an thị xã V để điều tra theo thẩm quyền.

Trong các ngày 06/12/2024 và 09/12/2024, Cơ quan điều tra thu giữ của anh Đỗ Đình H1 02 chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Lenovo Thinkpad X13 Gen 4 Core i5 đã mua của V và ông Nguyễn Trọng V1, sinh năm 1973 (bố bị cáo V) đã giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 98B2-726.75.

Cơ quan điều tra cho anh H1, anh H2 nhận dạng người qua bản ảnh, trong đó có ảnh của V để xác định người bán máy tính xách tay nêu trên; kết quả anh H1 và anh H2 đã nhận dạng ra Việt.

3

Tại bản kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTS ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V kết luận: 05 chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Lenovo Thinkpad X13 Gen 4 Core i5 của Công ty J bị trộm cắp ngày 12/11/2024 có tổng trị giá 137.400.000 đồng, trong đó trị giá của mỗi 01 chiếc là 27.480.000 đồng.

Từ nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2025/HS-ST ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã xử:

Căn cứ điểm c khoản 2, 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/12/2024 đến ngày 13/12/2024. Phạt tiền 5.000.000 đồng

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 09/5/2025 bị cáo Nguyễn Trọng V kháng cáo bản án sơ thẩm với lý do mức hình phạt đối với bị cáo là nặng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày: Về tội danh bị cáo không bị oan sai, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo xin hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội là lại cuộc đời.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số 225/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ điểm c khoản 2, 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo cho UBND phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm

4

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Đơn kháng cáo của bị cáo đã được làm trong thời hạn quy định của pháp luật theo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Toà án nhân dân thị xã Việt Yên đã nhận định về hành vi “Trộm cắp tài sản” dựa trên các chứng cứ về lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, vật chứng của vụ án. Khoảng 12 giờ ngày 12/11/2024, tại phòng kho bộ phận IT ở tầng 2 của Công ty trách nhiệm hữu hạn J, địa chỉ ở khu công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Trọng V là nhân viên của Công ty đã có hành vi lén lút trộm cắp được 05 chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Lenovo Thinkpad X13 Gen 4 có tổng trị giá 137.400.000 đồng, đều là tài sản của Công ty. Sau đó, V mang 04 chiếc máy tính xách tay trộm cắp được nêu trên bán lại cho người khác, còn giữ lại 01 chiếc để sử dụng. Cơ quan điều tra đã thu giữ được 03 máy tính xách tay Việt trộm cắp để trả lại bị hại. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo:

[3.1]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

  • - Về nhân thân: bị cáo Nguyễn Trọng V chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ:
  • + Cấp sơ thẩm đã xác định: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường, khắc phục hậu quả; bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú nên

5

  • được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
  • + Cấp phúc thẩm: Bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, tiền phạt số tiền 5.200.000 đồng, bị cáo được Chủ tịch UBND phường Q, thị xã V tặng giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác phối hợp cùng địa phương khắc phục hậu quả cơn bão số 3 YAGI, tài liệu thể hiện bị cáo, bị cáo có ông nội được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết mới ở cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết này và áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

[3.2]. Về hình phạt:

- Đối với kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo thì thấy: Cấp sơ thẩm xử bị cáo 2 năm 06 tháng là phù hợp với hành vi của bị cáo gây ra, do vậy Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận giảm hình phạt cho bị cáo

- Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bản thân bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã rất hối hận về hành vi sai trái mà bản thân đã gây ra. Tại địa phương bị cáo đều thực hiện tốt các quy định của địa phương đề ra, được chính quyền địa phương xác nhận. Việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm. Để đảm bảo tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, nên không cần phải cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo. Nên Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, cần sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên hình phạt nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng V, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên về phần hình phạt đối với bị cáo.

6

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm số 73/2025/HS-ST ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Xử:
  2. Căn cứ điểm c khoản 2, 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[4]. Đối với số tiền 5.200.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai số 0001006 ngày 24/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên và số 0002434 ngày 30/6/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang được trừ vào tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt đã tuyên tại bản án hình sự sơ thẩm. (Xác nhận bị cáo đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt theo bản án số 73/2025/HS-ST ngày 28/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang).

[5]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

7

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - VKS nhân dân thị xã Việt Yên;
  • - Toà án nhân dân thị xã Việt Yên;
  • - CCTHADS thị xã Việt Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngọ Thị Thanh Hảo

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự

  • Số bản án: 91/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Việt phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger