|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 91/2025/HS-PT Ngày: 29-05-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Ông Ung Quang Định
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh An - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 52/2025/HS-PT ngày 01/04/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Cao Trọng Hữu P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo: Cao Trọng Hữu P, sinh ngày 29/10/1987 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ I, khu phố B, phường Đ, TP ., tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Cao Trọng Q, sinh năm: 1954 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958; Vợ: Trần Thị Kim H (đã ly hôn), có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 10/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 01/2024, Cao Trọng Hữu P liên lạc với tài khoản Facebook tên “Mai Sieu P1” (không rõ lai lịch) hỏi mua 100 gam thuốc lá thơm (còn gọi là thuốc lào) và 200 gam cỏ mỹ với giá 2.100.000 đồng, giá mỗi loại 700.000 đồng/100gam. Hai bên thỏa thuận sẽ gửi cỏ mỹ, thuốc lào bằng hình thức chuyển phát hàng hóa. Khoảng 09 giờ sáng 03 ngày sau đó, một người giao hàng (không rõ lai lịch) giao cho P một hộp giấy, P đưa số tiền 2.100.000 đồng cho người này trước hẻm I T, TP Q. P đem hộp giấy về mở ra thấy có 02 gói nilon lớn chứa thực vật khô, trong đó 01 gói nilon chứa cỏ mỹ màu xanh và 01 gói nilon chứa thuốc lào màu nâu. P cất giữ số cỏ mỹ và thuốc lào trên tại nhà và đã bán cho một số người trên địa bàn thành phố Q. Cụ thể:
Bán trái phép chất ma túy cho Võ Ngọc T (tên gọi khác là T1) 02 lần:
- Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 ngày 29/02/2024, Võ Ngọc T đến nhà Cao Trọng Hữu P hỏi mua 01 gói cỏ mỹ giá 20.000 đồng, P lấy cỏ mỹ trong gói nilon mua về bỏ vào 01 gói nilon nhỏ bán cho T, lấy 20.000 đồng. T đem gói cỏ mỹ ra hẻm I T, sát nhà thờ Q1, phường Đ, thành phố Q sử dụng một mình hết.
- Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 03/3/2024, Võ Ngọc T đến nhà Cao Trọng Hữu P hỏi mua 01 gói cỏ mỹ giá 20.000 đồng, P lấy cỏ mỹ trong gói nilon mua về bỏ vào 01 gói nilon nhỏ bán cho T, lấy 20.000 đồng. T đem gói cỏ mỹ ra hẻm I T, sát nhà thờ Q1, phường Đ, thành phố Q sử dụng một mình hết.
Bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Đình T2 02 lần:
- Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ 50 ngày 27/02/2024, Nguyễn Đình T2 liên lạc với Cao Trọng Hữu P qua ứng dụng Zalo hỏi mua 500.000 đồng cỏ mỹ, Phước nhắn số tài khoản 0905772774 của P mở tại Ngân hàng Q2 (M) để T2 chuyển khoản trước, P sẽ gửi cỏ mỹ bằng xe buýt cho T2. T2 chuyển 500.000 đồng cho P. Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, P đặt ma tuý trong 01 hộp giấy gửi xe buýt lên T cho T2. T2 về mở hộp giấy ra thấy có 01 gói cỏ mỹ rồi lấy ra sử dụng một mình nhiều lần hết.
- Lần thứ hai: Khoảng 13 giờ ngày 04/3/2024, Nguyễn Đình T2 liên lạc với Cao Trọng Hữu P qua ứng dụng Zalo hỏi mua 500.000 đồng cỏ mỹ. T2 chuyển khoản cho P số tiền 500.000 đồng qua tài khoản của P tại Ngân hàng Q2. Khoảng 12 giờ ngày 05/3/2024, P đặt ma tuý trong 01 hộp giấy gửi xe buýt lên T cho T2. T2 về mở hộp giấy ra thấy cỏ 01 gói cỏ mỹ rồi lấy ra sử dụng một mình nhiều lần hết.
Bán trái phép chất ma túy cho Vũ Hữu N 02 lần:
- Lần thứ nhất: Khoảng 08 giờ 00 một ngày cuối tháng 12/2023, Vũ Hữu N đến nhà P hỏi mua 01 gói cỏ mỹ giá 50.000 đồng, P đưa cho N 01 gói nilon bên trong có cỏ mỹ, N đưa cho P số tiền 50.000 đồng rồi đem cỏ mỹ về nhà sử dụng một mình hết.
- Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ một ngày đầu tháng 01/2024, Vũ Hữu N đến nhà P hỏi mua 01 gói cỏ mỹ giá 50.000 đồng, P đưa cho N 01 gói nilon bên trong có cỏ mỹ, N đưa cho P số tiền 50.000 đồng rồi đem cỏ mỹ về nhà sử dụng một mình hết.
Khoảng 10 giờ 00 ngày 06/3/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý – Công an T3 phối hợp Công an phường Đ kiểm tra hành chính nhà Cao Trọng Hữu P tại địa chỉ tổ I, khu phố B, phường Đ, TP Q thì phát hiện trên nền nhà có 01 gói giấy kích thước (24x18)cm đựng thực vật khô nghi chứa chất ma tuý; 01 gói nilon kích thước (33x20)cm đựng thực vật khô nghi chứa chất ma tuý. Cao Trọng Hữu P khai nhận số thực vật trên là cỏ mỹ và thuốc lào của P cất giữ. Tổ công tác tiến hành thu giữ niêm phong toàn bộ số chất trên, lập biên bản ghi nhận vụ việc, đưa Cao Trọng Hữu P về trụ sở cơ quan Công an để làm việc.
Ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố T3 trưng cầu giám định số chất nghi là ma túy thu giữ của Cao Trọng Hữu P. Ngày 05/4/2024, Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng gửi bản Kết luận giám định số 662/KL-KTHS kết luận: Mẫu thực vật khô màu xanh (cắt nhỏ) gửi giám định có tìm thấy chất ma túy MDMB-CHMINACA và MDMB-4en-PINACA, khối lượng mẫu là 155,84 gam; Mẫu thực vật khô màu nâu (cắt nhỏ) gửi giám định có tìm thấy chất ma túy 5F-ADB-PINACA khối lượng mẫu là 133,38 gam.
MDMB-CHMINACA nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số TT là 238, danh mục IIC, MDMB-4en-PINACA nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số TT là 241, 5F-ADB-PINACA nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số TT là 43 danh mục IIC Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Ngày 23/7/2024 Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng gửi Công văn số 294/C09C-Đ2 trả lời: Hiện tại, C09C chưa giám định được hàm lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA, MDMB-CHMINACA và 5F-ADB-PINACA.
Vật chứng vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T3 đã thu giữ từ Cao Trọng Hữu Phước 289,22 gam thực vật khô có chứa chất ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 promax (đã qua sử dụng); 01 cân điện tử (đã qua sử dụng).
Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Trọng Hữu P;
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Trọng Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Trọng Hữu P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, truy thu nộp ngân sách Nhà nước, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/02/2025, bị cáo Cao Trọng Hữu P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định về phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến ngày 04/3/2024 bị cáo Cao Trọng Hữu P đã 06 lần bán ma túy cho các đối tượng Võ Ngọc T, Nguyễn Đình T2 và Vũ Hữu N. Ngoài ra, vào ngày 06/3/2024 bị cáo còn bị bắt quả tang đang tàng trữ 155,84 gam thực vật khô màu xanh có chứa chất ma túy MDMB-CHMINACA và MDMB-4en-PINACA và 133,38 gam thực vật khô màu nâu có chứa chất ma túy 5F-ADB-PINACAnhằm mục đích để bán. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Cao Trọng Hữu P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung: “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân và muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức án 07 năm 06 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt lẽ ra phải giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm để răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo đã ly hôn và hiện tại đang nuôi 03 con nhỏ trong đó có 01 con bị bệnh nặng; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; quá trình điều tra, truy tố và tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm được hòa nhập với cộng đồng, chăm lo làm ăn, nuôi dạy con cái và điều đó cũng thể hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa của pháp luật đối với người biết ăn năn hối cải.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Trọng Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Trọng Hữu P 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Cao Trọng Hữu P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Duy |
Bản án số 91/2025/HS-PT ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự phúc thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 91/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HSPT
