Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30-5-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Lực;

Ông Nguyễn Văn Hoàn.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 91/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 92/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2025/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Gia L, sinh năm 2004. Thường trú: ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 2001. Thường trú: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau. Tạm trú: số G, đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 02 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Gia L trình bày:

Bà Trần Gia L và ông Nguyễn Hải Đ tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 02/01/2024 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2024 ngày 02/01/2024. Thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau. Ông Đ không chăm lo cho cuộc sống gia đình, thường xuyên vay nợ để chơi cờ bạc và có mối quan hệ với người phụ nữ khác, bà L đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay. Ông Đ sinh sống tại địa chỉ: số G, đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Còn bà L, sinh sống tại hẻm S, đường N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương đến nay. Quá trình kết hôn vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Quang K, sinh ngày 07/02/2024. Hiện cháu K đang sinh sống cùng bà L, được bà L chăm sóc và nuôi dưỡng. Nay, bà L không còn tình cảm gì đối với ông Đ, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, đã sống ly thân, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Gia L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ.
  2. Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Trần Gia L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Trần Quang K, sinh ngày 07/02/2024 cho tới khi cháu Nguyễn Trần Quang K trưởng thành. Bà Trần Gia L không yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trần Quang K.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Hải Đ nhưng ông Đ vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Gia L và ông Nguyễn Hải Đ là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Gia L. Về con chung: đề nghị giao con chung cháu Nguyễn Trần Quang K cho bà Trần Gia L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Gia L không yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Gia L khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Nguyễn Hải Đ hiện nay có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: số G, Đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Gia L vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Hải Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Bị đơn ông Nguyễn Hải Đ vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Trần Gia L với bị đơn ông Nguyễn Hải Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2024 cấp ngày 02/01/2024 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà L trong thời gian chung sống giữa bà L và ông Đ thời gian đầu hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau. Ông Đ không chăm lo cho cuộc sống gia đình, thường xuyên vay nợ để chơi cờ bạc và có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, bà L đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng không có kết quả. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn ông Nguyễn Hải Đ tham gia tố tụng nhưng ông Đ vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông Đ vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông Đ là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, bà L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đ là có căn cứ chấp nhận.

[6] Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Trần Quang K, sinh ngày 07/02/2024. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Trần Quang K. Bà Trần Gia L không yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trần Quang K. Xét thấy, hiện nay cháu K đang sống chung và được bà L chăm sóc nuôi dưỡng phát triển bình thường, bà L có việc làm, có thu nhập đủ điều kiện để nuôi con phát triển bình thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu K cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trần Quang K.

[7] Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

[9] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Gia L đối với ông Nguyễn Hải Đ về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Gia L được ly hôn với ông Nguyễn Hải Đ (Giấy chứng nhận kết hôn 01/2024 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 02/01/2024).
    • - Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trần Quang K, sinh ngày 07/02/2024 cho bà Trần Gia L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Gia L không yêu cầu ông Nguyễn Hải Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trần Quang K.
    • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Gia L phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007728 ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - UBND xã Phú Hưng, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (01);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 91/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn bà Trần Gia L với bị đơn ông Nguyễn Hải Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger