|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 91/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 3 - 2025 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Xuân Thường,
Ông Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Tâm, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 514/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Phan Đình T, sinh ngày 06/10/1996; địa chỉ: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: chị Cao Thị H, sinh ngày 09/05/1997; hộ khẩu thường trú: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; hiện ở nước Pháp; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai, đơn xin vắng mặt của nguyên đơn – anh Phan Đình T trình bày: anh Phan Đình T và chị Cao Thị H kết hôn hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 04/3/2019, tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn một thời gian ngắn, đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nhau. Anh T, chị H đã ly thân hơn 4 năm nay. Chị H đã đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị anh Phan Đình T yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn chị Cao Thị H.
Về con chung: anh T và chị H có một con chung là Phan Nhật T1, sinh ngày 23/12/2018. Hiện cháu T1 đang sinh sống cùng anh T. Ly hôn, anh đề nghị Toà án giao con chung cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu Toà án giải quyết .
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn chị Cao Thị H: quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là chị Cao Thị H vắng mặt. Anh Phan Đình T không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay chị H cư trú, anh chỉ biết anh đang làm việc ở nước Pháp. Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án tại nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, đồng thời gửi Thông báo thụ lý vụ án cho chị H thông qua bà Trần Thị N (là mẹ đẻ của chị H) tiến hành xác minh, lấy lời khai, gửi văn bản yêu cầu bà Trần Thị N cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn. Tại biên bản xác minh ngày 06/9/2024, bà N khai rằng: chị H là con gái bà N; chị H đang sinh sống tại nước Pháp; chị H thỉnh thoảng liên lạc với bà N. Bà N đã thông tin cho chị H biết việc anh T làm đơn xin ly hôn chị H. Theo bà N thì chị H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đến nay, Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào của chị H thể hiện ý kiến liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng tại phiên tòa.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Cao Thị H đã được mẹ đẻ của mình cung cấp các thông tin về việc anh Phan Đình T xin ly hôn, nhưng vẫn cố tình giấu địa chỉ, không chấp hành các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Vì vậy việc xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Anh Phan Đình T có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo khoản 1 Điều 228, vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, là đúng quy định.
Về nội dung: xét thấy, anh Phan Đình T và chị Cao Thị H có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào năm 2019, không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân là hợp pháp. Vợ chồng đã ly thân với nhau từ hơn 4 năm nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Phan Đình T được ly hôn chị Cao Thị H. Đề nghị giao con chung là Phan Nhật T1 cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét; về tài sản chung, nợ chung: miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết:
Vụ án về “tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa nguyên đơn – anh Phan Đinh T2 và bị đơn – chị Cao Thị H; anh T2, chị H đều có hộ khẩu thường trú tại xóm F xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; bị đơn chị Cao Thị H đã xuất cảnh qua cửa khẩu sân bay quốc tế N1 lần cuối là ngày 18/01/2024 đến nay chưa nhập cảnh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Cao Thị H vắng mặt, Tòa án đã tiến hành xác minh lấy lời khai của bà Trần Thị N (là mẹ đẻ của chị Cao Thị H), địa chỉ: xóm H (nay là xóm T), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; yêu cầu bà cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho chị H biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết việc ly hôn giữa anh T2 và chị H. Tuy nhiên, bà N không cung cấp được địa chỉ hiện nay của chị H do chị H không cho bà biết; đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của chị H liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng của chị H trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Phan Đình T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo khoản 1 Điều 228, vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – anh Phan Đình T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: anh Phan Đình T và chị Cao Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04/3/2019,tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian ngắn, năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nhau. Anh T, chị H đã ly thân hơn 4 năm nay. Điều này thể hiện tình cảm vợ chồng giữa anh Phan Đình T và chị Cao Thị H đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Phan Đình T được ly hôn chị Cao Thị H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3.2]. Về con chung: anh Phan Đình T và chị Cao Thị H có 01 con chung là Phan Nhật T1, sinh ngày 23/12/2018; hiện cháu đang sống cùng anh T. Ly hôn, anh T đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy: hiện nay, anh T đang sống tại Việt Nam, cháu T1 đang còn nhỏ và sống cùng bố từ nhỏ đến giờ. Chị H đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài, không rõ địa chỉ. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con cần giao con chung Phan Nhật T1 cho anh Phan Đình T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh Phan Đình T không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: anh Phan Đình T và chị Cao Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.
[5] Về án phí: anh Phan Đình T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; Điều 97, Điều 102, khoản 1 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: anh Phan Đình T được ly hôn chị Cao Thị H.
- Về con chung: giao con chung là Phan Nhật T1, sinh ngày 23/12/2018 cho anh Phan Đình T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án không giải quyết.
Chị Cao Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung.
Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: anh Phan Đình T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí anh Phan Đình T đã tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013431 ngày 06 tháng 11 năm 2024.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản sao bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 91/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh Phan Đình Tuân được ly hôn chị Cao Thị Hồng.
