TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 91/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09/06/2025 V/v Tranh chấp Ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TIỀN GIANG | |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Minh Toàn
- Bà Lê Thị Phương Thảo
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Ông Nguyễn Anh Song-Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 147/2025/TLST-HNGĐ ngày 01/04/2025 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/05/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Nguyễn Thị Cẩm L sinh năm 1983
Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C, Tiền Giang
- Bị đơn:
Nguyễn Ngọc H sinh năm 1979
Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện C. Tiền Giang
(Chị L có đơn xin vắng mặt, anh H vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hoà giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chị L trình bày:
Chị L và anh H chung sống vợ chồng vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, H, Kiên Giang vào năm 2009 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm.
Do mâu thuẫn kéo dài mặc dù cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng không còn đã ly thân từ đầu năm 2019 đến nay nên chị L xin Tòa án giải quyết ly hôn với anh H. Về con chung có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc T sinh năm 2006 và Nguyễn Ngọc Như Ý sinh năm 2014. Khi ly hôn chị đồng ý giao cháu Ý cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
*Bị đơn anh H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu ly hôn của chị L
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
* Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị L và anh H quen biết sau đó tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2003, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã B, H, Kiên Giang vào năm 2009. Anh chị chung sống hạnh phúc thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo chị L trình bày là do anh chị thường xuyên bất đồng quan điểm. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H là hôn nhân hợp pháp. Nay chị L xin ly hôn với anh H nên được xem xét giải quyết theo quy định Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh H và chị L.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L
Chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh H lý do giữa chị L và anh H phát sinh mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2019, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị thường bất đồng quan điểm, giữa hai vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn, đã ly thân từ đầu năm 2019 đến nay. Anh H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết của Tòa án từ giai đoạn hòa giải cho đến khi xét xử đều vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu ly hôn của chị L chứng tỏ anh H không còn tình cảm và không quan tâm đến chị L, cũng không có ý kiến hay biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với chị L
Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh H đã có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019 và đã đến mức trầm trọng, hiện anh chị đã ly thân từ 2019 đến nay, do đó có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị L và anh H là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, nên xét thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L theo qui định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung: Chị L và anh H có 02 con chung là có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc T sinh năm 2006 đã trưởng thành và Nguyễn Ngọc Như Ý sinh năm 2014. Chị L đồng ý giao cháu Ý cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy từ khi ly thân cháu Ý sống với anh H được chăm sóc chu đáo, do đó cần giao cháu Ý cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện cho cháu phát triển toàn diện về tinh thần và thể chất và không làm ảnh hưởng cuộc sống ổn định của cháu Ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Ý cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không cấp dưỡng nuôi con chung, anh H cũng không có ý kiến yêu cầu về cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét vấn đề cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về nợ chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết về nợ chung.
Về án phí:
Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh H1 phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung vụ án:
Đề nghị áp dụng các Điều 53,56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L, cho chị L ly hôn với anh H, về con chung đề nghị giao cháu Ý cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết do không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;
- - Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn Nguyễn Thị Cẩm L: cho chị Nguyễn Thị Cẩm L được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.
- - Về con chung:
Giao cháu Nguyễn Ngọc Như Ý sinh năm 2014 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Về án phí:
Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị L đã nộp theo biên lai thu số 0012608 ngày 24/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành nên xem như chị L đã nộp xong án phí.
Chị L, anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Tường |
Bản án số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 91/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
