TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04/12/2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đào Thị Thu Vân;
- Ông Võ Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Long – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 328/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 21 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh ngày 06/05/1980; số căn cước công dân: [...]; địa chỉ: số E, tổ C, khóm T, xã L, tỉnh An Giang (có yêu cầu xét xử vắng mặt);
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/011978; số căn cước công dân: [...]; địa chỉ: số E, tổ C, khóm T, xã L, tỉnh An Giang (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn T chung sống nhau vào năm 2001, hôn nhân do tự tìm hiểu, không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống khoảng 03 năm gần đây thì mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm nên không còn chung sống cách
đây 03 tháng. Thấy tình cảm không còn bà xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Trung K, sinh ngày 14/5/2002 hiện con chung đang chung đã thành niên và Nguyễn Hồng V, sinh ngày 31/01/2009 hiện chung sống cùng bà N khi ly hôn yêu cầu tiếp tục nuôi cháu V, không yêu cầu cấp dưỡng. Về quan hệ tài sản chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết. Về quan hệ nợ chung: không có.
Tại các biên bản làm việc, bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà N về thời gian chung sống, thời gian xảy ra mâu thuẫn và ly thân. Do vợ chồng không hợp nhau nên không còn chung sống cách đây 03 tháng, vợ chồng không đăng ký kết hôn. Nay vợ xin ly hôn, ông đồng ý. Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Trung K, sinh ngày 14/5/2002 hiện con chung đang chung đã thành niên và Nguyễn Hồng V, sinh ngày 31/01/2009 hiện chung sống cùng bà N, khi ly hôn ông T đồng ý để bà N tiếp tục nuôi cháu V, không yêu cầu cấp dưỡng; Về quan hệ tài sản chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: không có.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 14, 53, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:
- Không công nhận bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng;
- Bà Trần Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Hồng V, sinh ngày 31/01/2009, ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Trần Thị N yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Ông T có nơi cư trú số 58, tổ C, khóm T, xã L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Nguyên đơn bà Trần Thị N và Bị đơn ông Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ.
[3] Bà Trần Thị N yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy, bà N và ông T đều xác định, ông, bà chung sống với nhau vào năm 2001 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, là quan hệ hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, khi có yêu cầu Tòa án giải quyết
việc ly hôn thì Tòa án không công nhận bà N và ông T là vợ chồng phù hợp với Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
[4] Về quan hệ con chung: Bà N và ông T xác định, trong thời gian chung sống, ông, bà có 02 con chung Nguyễn Trung K, sinh ngày 14/5/2002 hiện con chung đã thành niên. Bà N và ông T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. Bà N và ông T thống nhất thỏa thuận, bà Trần Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Hồng V, sinh ngày 31/01/2009. Xét, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và phù hợp với nguyện vọng của con chung, nên có cơ sở công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[5] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[6] Về quan hệ tài sản chung: Bà N và ông T xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[7] Về quan hệ nợ chung: Bà N và ông T xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[8] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Các Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N đối với ông Nguyễn Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng.
- Về quan hệ con chung: Bà N và ông T xác định, trong thời gian chung sống, ông, bà có 02 con chung Nguyễn Trung K, sinh ngày 14/5/2002 hiện con chung đã thành niên. Bà Trần Thị N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Hồng V, sinh ngày 31/01/2009. Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Trần Thị N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mực cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về quan hệ tài sản chung: Không có.
- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Trần Thị N phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0003101 do Thi hành án dân sự tỉnh An Giang cấp ngày 06 tháng 10 năm 2025. Bà Trần Thị N đã nộp đủ án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |
5
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |
Bản án số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 91/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thấy tình cảm không còn bà xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Trung K, sinh ngày 14/5/2002 hiện con chung đang chung đã thành niên và Nguyễn Hồng V, sinh ngày 31/01/2009 hiện chung sống cùng bà N khi ly hôn yêu cầu tiếp tục nuôi cháu V, không yêu cầu cấp dưỡng. Về quan hệ tài sản chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết. Về quan hệ nợ chung: không có.
