|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2025/DS-ST
Ngày: 24 - 6 - 2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Ngọc Phương;
- Ông Bùi Đắc Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đàm Thị T, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà T: Ông Đỗ Văn P, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (văn bản uỷ quyền ngày 03/12/2024); có mặt.
2. Bị đơn: Ông Võ Thanh K, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Đỗ Thị Thùy T1, sinh năm 1995; vắng mặt.
- 3.2. Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1999; vắng mặt.
- 3.3. Ông Đỗ Thành T3, sinh năm 2006; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 12 năm 2024 của nguyên đơn, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Đỗ Văn P trình bày:
Nguồn gốc đất mà bà T, ông H có được và đang tranh chấp với ông Võ Thanh K có nguồn gốc do ông (là anh trai của ông H) đứng ra nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn B và bà Phạm Thị C năm 2002, với giá 19.000.000 đồng, diện tích chuyển nhượng là ngang 5,45 m dài 34,5 m, đất toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Khi nhận chuyển nhượng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2017, thì ông H, bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 388,7 m², thửa đất số 64, tờ bản đồ số 32.
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận xong, đến năm 2019 thì ông H, bà T tiến hành xây nhà trên đất, không xây hàng rào. Ranh đất giữa các hộ thì ông H, bà T có cắm trụ bê tông, rào lưới B40. Quá trình sử dụng, khi ông H, bà T xây nhà thì ông D, bà C1 có tranh chấp về phần đất xây phía sau của gia đình. Cuối năm 2024, ông K có nhận chuyển nhượng đất của ông D, bà C1, sau đó, ông K tiến hành xây hàng rào. Gia đình ông cho rằng ông K xây hàng rào đã lấn sang phần đất của ông H, bà T nên các bên phát sinh tranh chấp. Nay, bà T yêu cầu ông K trả lại phần đất diện tích 19,2 m² (dài 4,8 m, rộng 04 m), có tứ cận: hướng Đông giáp ông L; hướng Tây giáp ông T4; hướng Bắc giáp ông K; hướng Nam giáp đường ĐT785.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T, ông H do bà T đang giữ, không có thế chấp ở cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.
Bị đơn – ông Võ Thanh K trình bày:
Nguồn gốc đất ông đang sử dụng và có tranh chấp với bà T là do ông nhận chuyển nhượng của ông D, bà C1 vào tháng 5/2024 với giá bao nhiêu ông không xác định được vì ông cùng lúc nhận chuyển nhượng 02 phần đất của ông D, bà C1. Phần đất trước ông đã làm thủ tục sang tên xong, còn phần đất này chưa ra giấy được do đang bị khởi kiện. Phần đất chưa sang tên được nhưng khi ông tiến hành sửa chữa hàng rào thì phát sinh tranh chấp với gia đình bà T. Nay, bà T khởi kiện ông yêu cầu trả phần đất diện tích tích 19,2 m² (dài 4,8 m, rộng 04 m), ông không đồng ý. Yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D, bà C1 ông đang giữ, không thế chấp cho ai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Đỗ Thị Thùy T1 trình bày:
Bà Đàm Thị T và ông Đỗ Văn H là cha mẹ của bà. Năm 2020, cha bà mất. Cha mẹ bà có 03 người con chung là bà, bà Đỗ Thị T2 và Đỗ Thành T3. Nguồn gốc phần đất mà gia đình bà đang quản lý, sử dụng và đang tranh chấp với ông Võ Thanh K là do nhận chuyển nhượng và được cấp giấy cho cha mẹ của bà năm 2017. Nay, bà thống nhất theo ý kiến, yêu cầu của bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Đỗ Thị T2 trình bày:
Thống nhất theo ý kiến, yêu cầu của bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Đỗ Thành T3 trình bày:
Thống nhất theo ý kiến, yêu cầu của bà T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
+ Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 236 Luật Đất đai 2024; các Điều 158, 166, 175 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc ông K trả lại diện tích 13.8 m², thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Về chi phí đo đạc, thẩm định: Ông K phải chịu theo quy định.
Về án phí: Ông K là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đàm Thị T là nguyên đơn, vắng mặt; ông Đỗ Văn P là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt; bà Đỗ Thị Thùy T1, bà Đỗ Thị T2, ông Đỗ Thành T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Đàm Thị T, bà Đỗ Thị Thùy T1, bà Đỗ Thị T2, ông Đỗ Thành T3.
[2] Về nội dung vụ án: Gia đình bà Đàm Thị T được cấp phần đất diện tích 388,7 m², thửa đất số 64, tờ bản đồ số 32. Năm 2024, ông K nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Hồ Văn D và bà Nguyễn Thị Kim C1 phần đất giáp ranh đất mà bà T được cấp và đang sử dụng. Trong quá trình sử dụng, bà T cho rằng ông K sử dụng lấn chiếm sang phần đất của gia đình bà. Ông K cho rằng ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông D, bà C1 phù hợp với quy định của pháp luật, đúng hiện trạng không có lấn đất của gia đình bà T nên các bên phát sinh tranh chấp.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nguồn gốc đất của bà T là do bà nhận chuyển nhượng của người khác, bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CG 993554, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số: CH00488, ngày 28/4/2017, diện tích 388,7 m², thửa đất số 64, tờ bản đồ số 32.
Quá trình sử dụng ông K sử dụng diện tích 192,1 m², thuộc một phần thửa 29, 62, 63, 64, 125, trong đó bao gồm diện tích đất tranh chấp. Phần đất ông K sử dụng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo sơ đồ đo đạc, thể hiện: Diện tích đất tranh chấp 13,8 m² thuộc một phần thửa 64, tờ bản đồ 32, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đỗ Văn H, bà Đàm Thị T.
Qua đó, thể hiện ông K có sử dụng phần diện tích đất 13,8 m² (đất được cấp Giấy chứng nhận cho ông H, bà T) nên bà T yêu cầu ông K trả lại phần diện tích đất 13,8 m² là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của bà Đàm Thị T được chấp nhận nên ông Võ Thanh K phải chịu án phí sơ thẩm nhưng do ông K là người cao tuổi nên được miễn án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các chi phí tố tụng khác: Chi phí đo đạc, định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ là 30.500.000 đồng. Ông K phải chịu chi phí này. Do bà T đã nộp tạm ứng và đã chi phí xong nên ông K có nghĩa vụ trả lại cho bà T số tiền 30.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; các Điều 158, 166, 175 Bộ luật Dân sự; các Điều 144, 147, 157, 165 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đàm Thị T đối với ông Võ Thanh K về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Buộc ông Võ Thanh K trả lại cho bà Đàm Thị T, bà Đỗ Thị Thùy T1, bà Đỗ Thị T2, ông Đỗ Thành T3 phần đất diện tích 13,8 m², có tứ cận: hướng Bắc giáp MPT 125 dài 3.17 m; hướng Nam giáp MPT 64 dài 3.47 m; hướng Đông giáp MPT 125 dài 4.18 m; hướng Tây giáp MPT 63 dài 4.15 m; cùng tờ bản đồ số 32. Đất toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Có sơ đồ kèm theo.
2/ Về án phí:
Ông Võ Thanh K được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Đàm Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Đàm Thị T số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà T đã nộp tại Biên lai thu số 0003098 ngày 11/02/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
3/ Các chi phí tố tụng khác: Ông Võ Thanh K phải chịu 30.500.000 (ba mươi triệu năm trăm nghìn) đồng chi phí đo đạc, định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ. Do bà Đàm Thị T đã nộp tạm ứng và đã chi phí xong nên ông Võ Thanh K có nghĩa vụ trả lại cho bà Đàm Thị T số tiền 30.500.000 (ba mươi triệu năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Đàm Thị T cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Võ Thanh K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5/ Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Xuân Lan |
Bản án số 91/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 91/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
