|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 91/2025/DS-ST Ngày 10 – 6 – 2025 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Quốc Trung
Ông Nguyễn Tấn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
Trong ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2025/TLST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1959 (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn L, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 3 năm 2025, và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Trước đây vợ chồng bà Ú, ông L có thành lập tổ hùn vốn (gọi là hụi) để anh chị em trong địa phương góp vốn làm ăn, phát triển kinh tế. Theo đó, bà có tham gia chơi 13 chưng hị do bà Ú, ông L làm chủ. Cụ thể như sau:
Dây hụi mở vào ngày 10/8/2022 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng, có 42 chưng, một tháng khui một lần vào ngày 10 âm lịch hàng tháng. Dây hụi này bà tham gia chơi 06 chưng (trong đó bà đã hốt 01 chưng).
Dây hụi mở vào ngày 30/01/2023 (âm lịch), loại hụi 2.000.000 đồng, có 24 chưng, một tháng khui một lần vào ngày 30 âm lịch hàng tháng. Dây hụi này bà tham gia chơi 03 chưng (trong đó bà đã hốt 02 chưng).
Dây hụi mở vào ngày 20/02/2023 (âm lịch), loại hụi 1.000.000 đồng, có 32 chưng, một tháng khui một lần vào ngày 20 âm lịch hàng tháng. Dây hụi này bà tham gia chơi 04 chưng (trong đó bà đã hốt 02 chưng).
Các dây hụi trên thì đến ngày 30/7/2024 (âm lịch) thì bà Ú, ông L tuyên bố ngừng hụi không hoạt động nữa. Sau khi tuyên bố ngừng hụi thì bà Ú, ông L tuyên bố không có khả năng thanh toán tiền hụi lại cho bà, vợ chồng của bà Ú cho rằng hụi viên không đóng hụi chết nên không có tiền để trả lại. Vì vậy, bà có làm đơn gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C để yêu cầu bà Ú, ông L trả số tiền hụi mà bà đã đóng cho bà Ú, ông L. Khi đó thì giữa bà với bà Ú, ông L có chốt lại số tiền hụi mà bà Ú, ông L còn nợ là 153.200.000 đồng, bà và bà Ú có thoả thuận hàng tháng bà Ú trả cho bà số tiền là 3.000.000 đồng đến khi trả xong hết số nợ là 153.200.000 đồng, bà Ú có ký tên vào biên bản thoả thuận ngày 10/12/2024. Nhưng nay bà Ú cứ hứa hẹn, không muốn trả tiền cho bà theo thoả thuận. Nay bà yêu cầu bà Ú, ông L có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền hụi là 153.200.000 đồng, không yêu cầu lãi suất.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị Ú; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn L đã được Toà án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không đến Toà án theo giấy triệu tập và cũng không gửi cho Toà án văn bản ý kiến của mình nên không ghi nhận được ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ với bị đơn bà Nguyễn Thị Ú là “Tranh chấp hụi” được quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ú có địa chỉ cư trú tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện C thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ú, ông Trần Văn L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Ú, ông L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Qua xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung tranh chấp của vụ án như sau:
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Ú và ông Trần Văn L có trách nhiệm liên đới trả cho bà Đ số tiền hụi là 153.200.000 đồng, không yêu cầu lãi suất.
[3.1] Quá trình làm việc tại Tòa án, bà Đ xác định có tham gia chơi hụi do bà Ú và ông L làm chủ hụi, dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở vào ngày 10/8/2022 âm lịch, có 42 chưng, bà Đ tham gia 06 chưng; dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở vào ngày 30/01/2023 âm lịch, có 24 chưng, bà Đ tham gia 03 chưng; dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở vào ngày 20/02/2023 âm lịch, có 32 chưng, bà Đ tham gia 04 chưng. Sau khi khui các dây hụi trên đến ngày 30/7/2024 âm lịch thì bà Ú, ông L tuyên bố ngừng hụi, không hoạt động nữa. Sau khi bà Ú, ông L tuyên bố ngừng hụi thì tuyên bố do hụi viên không đóng hụi chết nên không có tiền để trả lại cho bà. Ngày 10/12/2024, bà Ú có làm biên bản thoả thuận và ký tên thừa nhận còn nợ bà số tiền hụi là 153.200.000 đồng, cam kết hàng tháng sẽ trả cho bà số tiền là 3.000.000 đồng cho đến khi trả hết số tiền hụi còn nợ là 153.000.000 đồng, nhưng sau đó bà Ú không thực hiện theo thoả thuận. Nay bà Đ yêu cầu bà Ú, ông L có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền hụi là 153.000.000 đồng và không yêu cầu lãi suất. Đối với bà Ú và ông L, kể từ khi thụ lý vụ án bà Ú, ông L đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ và thông báo về các phiên hòa giải, triệu tập đến để xét xử, nhưng bà Ú và ông L vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đ. Điều này, cho thấy bà Ú và ông L không đưa các chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và phải tự chịu hậu quả pháp lý cho việc không đưa ra chứng cứ chứng minh và vắng mặt tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại Biên bản thỏa thuận ngày 10/12/2024 giữa bà Đ với bà Ú do bà Đ cung cấp thể hiện bà Ú thừa nhận còn thiếu tiền hụi của bà Đ với tổng số tiền là 153.200.000 đồng và cam kết trả cho bà Đ là thực tế có xảy ra. Bởi lẽ, tại Biên bản thoả thuận ngày 10/12/2024 thì bà Ú có ký và ghi rõ họ tên. Theo quy định tại khoản 8 Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường thì chủ hụi có nghĩa vụ phải thực hiện “Các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”. Bà Ú đã tuyên bố ngừng hụi và thỏa thuận để trả tiền hụi lại cho bà Đ nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ đối với bà Ú về tiền hụi, buộc bà Ú trả cho bà Đ số tiền hụi là 153.200.000 đồng.
[3.2] Về yêu cầu tính lãi: Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 3 năm 2025 và tại phiên tòa, bà Đ không yêu cầu tính lãi đối với số tiền hụi là 153.200.000 đồng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.3] Đối với trách nhiệm của ông L về việc có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đ số tiền hụi là 153.200.000 đồng: Hội đồng xét xử xét thấy, bà Đ xác định trong thời gian chung sống ông L có biết việc bà Ú mở các dây hụi và số tiền lãi hụi thu được đều sử dụng vào mục đích sinh hoạt chung trong gia đình, vào thời điểm bà Ú mở các dây hụi thì bà Ú và ông L còn là vợ chồng, chưa ly hôn, không có sống ly thân mà cùng sống chung tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy đây là khoản nợ chung của ông L và bà Ú trong thời kỳ hôn nhân. Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì bà Ú và ông L phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ tiền hụi của bà Đ. Do đó, ông L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đ số tiền hụi là 153.200.000 đồng.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Ú, ông L phải chịu số tiền án phí đối với yêu cầu của bà Đ được chấp nhận là 153.200.000 đồng với số tiền án phí 7.660.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.
Bà Đ không phải chịu án phí. Bà Đ thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 471 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với bà Nguyễn Thị Ú và ông Trần Văn L.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Nguyễn Thị Ú và ông Trần Văn L phải chịu án phí số tiền là 7.660.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi Bản án có hiệu lực.
Buộc bà Nguyễn Thị Ú và ông Trần Văn L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền hụi là 153.200.000 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí. Bà Nguyễn Thị Đ thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Chí Thêm |
Bản án số 91/2025/DS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 91/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của bà Đ đối với bà Ú
