Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/DS-PT

Ngày: 21/02/2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diệp Linh

Các Thẩm phán:

Bà Đặng Mai Hoa

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Nguyễn Thu Dung - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 570/2024/TLST-DS ngày 16.12.2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 27 tháng 08 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐPT-HPTDS ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ: Số B - BN, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q và khai thác tài sản Ngân hàng S; đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T - Tổng giám đốc; đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Thanh H.

Bị đơn: Bà Trần Vinh H1, sinh năm 1977; Cư trú: Số A lô A tổ F phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

Do có kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/5/2023 và bản tự khai trong quá trình tố tụng của đại diện nguyên đơn được thể hiện như sau:

Ngày 10/4/2017, bà Trần Vinh H1 có ký đồng ý sử dụng Thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng. Căn cứ thu nhập của bà H1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 472074 – 3833 với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 59.382.393 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 31/3/2018 bà H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 39.891.473 đồng. Từ ngày 30/4/2018 bà H1 đã không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo thông báo giao dịch hàng tháng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 01/5/2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Lãi suất quá hạn: (2.15% x 150%) = 3.3%/tháng. Tính đến ngày 24/5/2024, bà H1 còn nợ cụ thể các khoản sau: Nợ gốc: 25.067.858 đồng; Nợ lãi quá hạn: 59.716.768 đồng. Tổng dư nợ: 84.784.626 đồng.

Nay Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai buộc bà Trần Vinh H1: Thanh toán trả Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến ngày 27/8/2024, bà H1 còn nợ cụ thể các khoản sau: Nợ gốc: 25.067.858 đồng; Nợ lãi quá hạn: 62.276.828 đồng. Tổng dư nợ: 87.344.686 đồng.

Bà Trần Vinh H1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của S1 phát sinh sau ngày 27/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội đã niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Trần Vinh H1, bao gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm; Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bà Trần Vinh H1 đều vắng mặt không có lý do.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 27.08.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần S đối với bà Trần Vinh H1.

2. Buộc bà Trần Vinh H1 phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 27/8/2024 là: 84.765.713 đồng, trong đó: Nợ gốc: 23.483.677đồng; Nợ lãi quá hạn: 59.697.855 đồng, lãi trong hạn và phí: 1.584.181 đồng.

Kể từ ngày 28/7/2024 bà Trần Vinh H1 còn phải chịu lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp bà Trần Vinh H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S thì Ngân hàng thương mại Cổ phần S có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự buộc bà Trần Vinh H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

3. Bác yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần S đối với bà Trần Vinh H1 về số tiền lãi quá hạn là 2.578.973 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 30.08.2024, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn kháng toàn bộ bản án sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 27.08.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần S; Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 27.08.2024 của Tòa án

nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn bà Trần Vinh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng bà Trần Vinh H1 vắng mặt không có lý do nên xét xử vắng mặt bà Trần Vinh H1 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về số tiền nợ gốc: Ngày 10/4/2017, bà Trần Vinh H1 có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng TMCP S với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 10/4/2017 đính kèm Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S được phát hành và quản lý bởi Ngân hàng có hiệu lực từ 15/8/2016, tóm tắt sao kê, Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ tín dụng mà nguyên đơn cung cấp, lời trình bày của nguyên đơn có cơ sở để xác định bị đơn đã được nguyên đơn đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 25 triệu đồng. Hai bên thỏa thuận về lãi suất, phí, phương thức thanh toán theo những điều khoản quy định tại Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Quá trình sử dụng thẻ đến nay bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 59.382.393 đồng, tuy nhiên bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả gốc và lãi theo quy định Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, mới chỉ thanh toán cho nguyên đơn số tiền 39.891.473 đồng.

Căn cứ tóm tắt sao kê thẻ tín dụng của bà H1, tính đến kỳ 28/02/2018, bà H1 giao dịch tổng số tiền là 59.382.393 đồng, tổng lãi và phí tính đến kỳ

28/02/2018 là 3.992.757 đồng. Tổng, bà H1 đã thanh toán 39.891.473 đồng, như vậy tiền nợ gốc bà H1 còn nợ là: 23.483.677 đồng. Cấp sơ thẩm xác định xác định dư nợ gốc của bà H1 đối với thẻ tín dụng là 23.483.677đồng là có căn cứ.

[2.2] Về yêu cầu trả nợ lãi: Cấp sơ thẩm căn cứ Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010, Điều 5 Thông tư 19/2016/TT-NHNN hoạt động thẻ ngân hàng, trước khi thẻ tín dụng chuyển sang nợ quá hạn thì nợ lãi trong hạn và phí tính đến kỳ 31/3/2018 đến 30/4/2018 là 1.584.181 đồng. Đối với lãi quá hạn: Bản án sơ thẩm xác định lãi quá hạn trên dư nợ gốc là 23.483.677đồng, từ 01/5/2018 đến ngày 27/8/2024, nợ lãi quá hạn được xác định như sau: 23.483.677 đồng x 3.3%/tháng x 2311/30 = 59.697.855 đồng là có căn cứ.

Từ những phân tích, nhận định trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 27.08.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội về việc xác định lại số tiền, gốc và lãi theo quy định của pháp luật.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 27.08.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
  3. Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ đã đóng tại biên lai số 0033670 ngày 24.09.2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận Hoàng Mai;
  • - Chi cục THADS quận Hoàng Mai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Diệp Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 91/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger