Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/KDTM-PT

Ngày: 24/4/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Thảo
Các Thẩm Phán: 1. Bà Lưu Thị Đoan Trang
2. Bà Vũ Thị Hường

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Kim Hoàng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận Hòa – Kiểm sát viên.

Vào ngày 24/4/2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2024/TLPT-KDTM ngày 23/01/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 3700/2023/KDTM-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1169/2024/QĐ-PT ngày 06/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 4137/2024/QĐ-PT ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần D
  2. Địa chỉ: Lô A, KCN N, tỉnh lộ 25B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai – Đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Trung H

    Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Phương L và bà Thái Yến N (Văn bản ủy quyền số 2912/2023-UQ ngày 29/12/2023); Địa chỉ: Lô A, KCN N, tỉnh lộ 25B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (Yêu cầu xét xử vắng mặt).

  3. Bị đơn: Công ty TNHH X
  4. Địa chỉ: Số C, Đường số B, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh – Đại diện theo pháp luật: Ông Choi Hag R

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1990 (Văn bản ủy quyền ngày 26/3/2024); Địa chỉ: C Đường số B, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

Người kháng cáo: Công ty TNHH X - là Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các tài liệu khác, nguyên đơn là Công ty Cổ phần D trình bày:

Ngày 15/6/2021, ngày 16/11/2021, ngày 01/4/2022 và ngày 01/5/2022 giữa Công ty Cổ phần D (sau đây gọi tắt là Công ty D - Đ) và Công ty TNHH X (sau đây gọi tắt là Công ty X) đã ký Hợp Đồng kinh tế số 150621/HĐKT/DIC-GARAM, Phụ lục hợp đồng số 01, Phụ lục hợp đồng số 02, Phụ lục hợp đồng số 03 về việc cung cấp bê tông thương phẩm phục vụ thi công công trình K tại Đường số C, Khu công nghiệp G, P, Đồng Nai.

Từ khi giao kết hợp đồng, Công ty D đã cấp bê tông thương phẩm cho Công ty X và xuất các hóa đơn GTGT cho Công ty X làm cơ sở thanh toán, với tổng số tiền đã cấp tính theo đơn giá trên hợp đồng 2.755.953.184 đồng (Hai tỷ, bảy trăm năm mươi lăm triệu, chín trăm năm mươi ba nghìn, một trăm tám mươi bốn) đồng. Tính đến ngày khởi kiện Công ty X đã thanh toán cho Công ty D số tiền là 1.824.786.107 đồng (Một tỷ, tám trăm hai mươi bốn triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn, một trăm linh bảy) đồng. Số tiền còn lại mà Công ty X chưa thanh toán cho Công ty D là 931.167.077 đồng (Chín trăm ba mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn, không trăm bảy mươi bảy đồng). Quá trình khởi kiện Công ty X đã trả thêm 200.000.000 đồng.

Công ty D khởi kiện yêu cầu Công ty X trả số tiền nợ gốc còn lại là: 731.167.077 (Bảy trăm ba mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi bảy ngàn, không trăm bảy mươi bảy đồng) và tiền lãi tính đến ngày xét xử là 188.323.158 đồng (Một trăm tám mươi tám triệu, ba trăm hai mươi ba ngàn, một trăm năm mươi tám đồng), tổng cộng là 919.490.235 đồng (Chín trăm mười chín triệu, bốn trăm chín mươi ngàn, hai trăm ba mươi lăm đồng). Việc thanh toán được thực hiện một lần ngay khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực

* Đại diện Bị đơn Công Ty TNHH X có bản tự khai trình bày như sau:

Công ty XCông ty D ký kết Hợp đồng số: 150621/HĐKT/DIC-GARAM ký ngày 15/06/2021 và Phụ lục hợp đồng số 01 ký ngày 16/11/2011, Phụ lục hợp đồng số 02 ký ngày 01/04/2022, Phụ lục hợp đồng số 03 ký ngày 01/05/2022.

Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm Công ty X còn nợ Công ty D số tiền: 731.167.077 (Bảy trăm ba mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi bảy ngàn, không trăm bảy mươi bảy đồng).

Thực tế, Công ty X khi làm dự án này vướng ngay thời điểm Covid 2021 và 2022 vật giá mọi thứ đều tăng giá và bên Công ty X cũng phải chấp nhận giá bê tông của Công ty D tăng giá thay đổi đến 3 lần. Công ty X cũng hợp tác để làm việc. Công ty X đã cố gắng thanh khoản hết mức có thể cho Công ty D. Nhưng thời điểm kinh tế hiện tại vẫn chưa ổn định Công ty X vẫn chưa có dự án nào mới kể từ dự án hợp tác với Công ty D - Đ kết thúc và thua lỗ dự án rất nhiều do trượt giá và kinh tế thị trường không ổn định. Công ty X cũng đã cố gắng trả thêm một khoản tiền sau dự án cho Công ty D - Đ. Công ty X mong muốn bên Công ty D có thể kéo dài thời gian cho Công ty X được thanh toán mỗi tháng 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, chia sẻ giúp cho Công ty X để vượt qua giai đoạn khó khăn này. Rất mong Công ty D – Đ không tính khoản lãi mà bên Công ty D - Đ đã tính cho Công ty X.

Bản án số 3700/2023/KDTM-ST ngày 15/9/2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án sơ thẩm số 2104/2024/QĐ-SCBSBA ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ Điều 21, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 50, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần D – Đ:
  2. Buộc Công ty TNHH X phải thanh toán số tiền là 919.490.235 (Chín trăm mười chín triệu, bốn trăm chín mươi ngàn, hai trăm ba mươi lăm) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 731.167.077 (Bảy trăm ba mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi bảy ngàn, không trăm bảy mươi bảy) đồng, tiền lãi là 188.323.158 đồng (Một trăm tám mươi tám triệu, ba trăm hai mươi ba ngàn, một trăm năm mươi tám) đồng. Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần D về việc buộc Công ty TNHH X phải thanh toán số tiền là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

· Ngày 28/9/2023, ông Choi Hag R đại diện theo pháp luật của Công ty X có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 3700/2023/KDTM-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty X đề nghị được thanh toán mỗi tháng 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng do hiện nay khó khăn và không tính khoản lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Đại diện Bị đơn xuất trình Biên bản làm việc ngày 15/4/2024 giữa Công ty DCông ty X thỏa thuận tổng số tiền Công ty X phải trả cho Công ty D là 625.167.077 đồng bằng cách: Ngày 22/4/2024 trả 531.167.077 đồng; trước ngày

31/5/2024 trả 94.000.000 đồng. Trường hợp vi phạm thời hạn trên thì Công ty X phải trả đủ số tiền lãi theo Bản án của Tòa cho Công ty D.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét bỏ phần lãi hoặc tính lại lãi theo quy định của pháp luật.

* Nguyên đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có văn bản trình bày: Quá trình chờ cấp phúc thẩm xét xử Công ty X đã thanh toán cho Công ty D – Đ:

  • Ngày 24/10/2023 trả 100.000.000 đồng
  • Ngày 07/02/2024 trả 100.000.000 đồng.
  • Ngày 22/4/2024 trả 300.000.000 đồng.
  • Vậy số nợ gốc còn lại 231.167.077 đồng

Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, bị đơn phải thanh toán 487.099.781 đồng trong đó nợ gốc 231.167.077 đồng, lãi theo Bản án sơ thẩm 188.323.158 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 24/4/2024 là 67.609.546 đồng. Lãi trả chậm tiếp tục tính từ ngày 25/4/2024 cho đến khi bị đơn trả xong nợ.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

- Về tố tụng: Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chấp nhận kháng cáo của Công ty X. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 3700/2023/KDTM-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Căn cứ vào Đơn khởi kiện ngày 17/4/2023 của Công ty D cấp sơ thẩm xác định việc khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên M đăng ký lần đầu ngày 15/5/2015, đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 19/6/2023 thì Công ty TNHH X có địa chỉ trụ sở chính số C, Đường số B, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định.

[1.2] Bị đơn là Công ty X kháng cáo Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm và đã thực hiện nộp tạm ứng án phí phúc thẩm đúng theo quy định tại Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo điểm b khoản 3 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Đại diện nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn:

[2.1] Bị đơn không đồng ý trả lãi chậm thanh toán theo bản án sơ thẩm nên kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét bỏ phần lãi hoặc tính lại lãi theo quy định của pháp luật. Đây là vấn đề cần xem xét.

Nguyên đơn có gửi tòa phúc thẩm văn bản ý kiến nội dung thống nhất với trình bày của bị đơn về xác nhận trong quá trình chờ xét xử phúc thẩm thì bị đơn đã trả cho nguyên đơn tổng cộng 500.000.000 đồng, hiện còn nợ theo quyết định của Bản án sơ thẩm là 419.490. 235 đồng trong đó nợ gốc là 231.167.077 đồng, tiền lãi chậm thanh toán là 188.323.158 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy đại diện bị đơn có xuất trình Biên bản làm việc ngày 15/4/2024 giữa 02 bên đương sự xác định trường hợp bị đơn thực hiện trả tiền đúng thời hạn như biên bản ghi nhận thì nguyên đơn đồng ý cho bị đơn trả số tiền 625.167.077 đồng, nếu vi phạm thời hạn cam kết trả nợ thì phải trả đủ gốc và lãi theo Bản án của Tòa đã tuyên. Tuy nhiên, đại diện nguyên đơn xin vắng mặt và trong biên bản trình bày ý kiến thì đại diện nguyên đơn vẫn xác định bị đơn phải trả số tiền gốc và lãi theo Bản án sơ thẩm và tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 16/9/2023 cho đến khi trả xong. Do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để ghi nhận số tiền còn phải trả theo Biên bản làm việc ngày 15/4/2024 giữa 02 bên nguyên đơn và bị đơn ký. Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo phần tiền lãi chậm thanh toán theo yêu cầu của đại diện bị đơn.

Tòa sơ thẩm căn cứ theo thỏa thuận của các đương sự tại Điều 5.2 của Hợp Đồng kinh tế số 150621/HĐKT/DIC-GARAM ngày 15/6/2021 thỏa thuận: “nếu tới hạn thanh toán mà bên mua chưa thanh toán cho bên bán, thì bên mua phải chịu lãi suất bằng 1,5%/tháng tính trên số tiền nợ trễ hạn”. Thời điểm vi phạm nghĩa vụ thanh toán được xác định theo thỏa thuận: “Bên mua sẽ than toán 100% giá trị khối lượng bê tông thực tế đã đổ trong vòng 10 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn”.

Bản án sơ thẩm căn cứ vào thỏa thuận của các bên tính lãi suất 1,5%/tháng tức lãi suất 18%/năm để tính lãi chậm thanh toán mà chưa xem xét thỏa thuận của các bên có phù hợp với quy định của Điều 306 Luật thương mại hay không và tại Điều 11 - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 như sau:

"Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 thì khi xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1, Ngân hàng Thương mại Cổ phần C, Ngân hàng N2,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác".

Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm thu thập lãi suất trung, dài hạn của Ngân hàng TMCP C cung cấp ngày 25/7/2023 là 12,50%/năm, lãi suất nợ quá hạn = 150% lãi suất vay trong hạn là 18,75%/năm; Ngân hàng TMCP N1 cung cấp ngày 20/7/2023 là 10,50%/năm, lãi suất nợ quá hạn = 150% lãi suất vay trong hạn là 15,75%/năm; Ngân hàng N2 cung cấp ngày 31/7/2023 là 10%/năm, lãi suất nợ quá hạn = 150% lãi suất vay trong hạn là 15%/năm. Vậy lãi suất trung bình của 03 ngân hàng trên là 16,5%/năm. Các đương sự thỏa thuận lãi chậm trả 18%/năm là cao hơn lãi suất trung bình của 03 ngân hàng (theo quy định Điều 306 Luật thương mại), tại phiên tòa bị đơn đề nghị xem xét lại lãi chậm trả theo quy định hoặc bỏ lãi nên Hội đồng xét xử xét lại số tiền lãi chậm trả theo quy định.

Đối với Hóa đơn giá trị gia tăng số 00000081 xuất ngày 29/6/2022 số tiền 926.666.350 đồng, ngày nhận hóa đơn 29/6/2022, tiền lãi phát sinh do chậm trả đối với số tiền 926.666.350 đồng, tính từ ngày 15/7/2022 đến ngày 27/4/2023 (287 ngày), lãi suất 16,5%/năm là 120.225.438 đồng (1).

Ngày 28/4/2023 bị đơn thanh toán 100.000.000 đồng, tiền lãi phát sinh do chậm trả đối với số tiền 826.666.350 đồng tính từ ngày 28/4/2023 đến ngày 10/7/2023 (74 ngày), lãi suất 16,5%/năm là 27.653.688 đồng (2).

Ngày 11/7/2023 bị đơn thanh toán 100.000.000 đồng, tiền lãi phát sinh do chậm trả đối với số tiền 726.666.350 đồng tính từ ngày 11/7/2023 đến ngày 15/9/2023 (67 ngày), lãi suất 16,5%/năm là 22.009.032 đồng (3).

Đối với Hóa đơn giá trị gia tăng số 00000164 xuất ngày 03/8/2022 số tiền 4.500.727 đồng, ngày nhận hóa đơn 04/8/2022, tiền lãi phát sinh do chậm trả nguyên đơn tính từ ngày 20/8/2022 đến ngày 15/9/2023 (392 ngày), lãi suất 16,5%/năm là 797.553 đồng (4).

Tổng cộng tiền lãi chậm thanh toán bị đơn phải trả cho nguyên đơn là (1) + (2) + (3) + (4) = 170.685.711 đồng (Một trăm bảy mươi triệu, sáu trăm tám mươi lăm ngàn, bảy trăm mười một đồng). Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm đối với việc xác định lãi suất theo thỏa thuận của các đương sự nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật thì mới được ghi nhận.

[2.2] Về quyết định lãi suất trong quyết định của Tòa án:

Do các bên đương sự có thỏa thuận về việc trả lãi đối với trường hợp chậm trả (Điều 5.2 của Hợp Đồng kinh tế số 150621/HĐKT/DIC-GARAM ngày 15/6/2021) nhưng mức lãi thỏa thuận cao hơn quy định của pháp luật, cấp sơ thẩm áp dụng: “Kể từ ngày Công ty cổ phần D có đơn yêu cầu thi hành án nếu Công ty TNHH X không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nêu trên, thì hàng tháng Công ty TNHH X còn phải chịu trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015” là chưa chính xác, cần điều chỉnh lại áp dụng điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại”, do đây là vụ án kinh doanh thương mại nên áp dụng Luật thương mại theo quy định Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, không áp dụng Bộ luật dân sự như án sơ thẩm quyết định.

[2.3] Việc bị đơn kháng cáo yêu cầu trả dần mỗi tháng 100.000.000 đồng không được nguyên đơn chấp nhận nên kháng cáo này của bị đơn không có cơ sở chấp nhận.

[2.4] Đối với phần tiền gốc hai bên xác nhận tính đến ngày xét xử phúc thẩm còn nợ gốc là 231.167.077 đồng Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận.

[2.5] Tổng số tiền Công ty X phải trả cho nguyên đơn là 401.852.788 đồng, do đó sửa Bản án sơ thẩm số 3700/2023/KDTM-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đây là tình tiết mới cấp sơ thẩm không có lỗi.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí:

[4.1] Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự Công ty X được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

[4.2] Án phí sơ thẩm về tranh chấp kinh doanh thương mại được xác định lại như sau: Công ty X phải nộp án phí sơ thẩm là 20.074.112 đồng.

Từ những nhận định trên,

- Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

- Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH X.

- Sửa Bản án số 3700/2023/KDTM-ST ngày 15/9/2023 và Quyết định sửa chữa, bổ sung Bản án sơ thẩm số 2104/2024/QĐ-SCBSBA ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ghi nhận Công ty TNHH X đã hoàn trả Công ty Cổ phần D 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
  2. Buộc Công ty TNHH X phải trả cho Công ty Cổ phần D số tiền 401.852.788 đồng (Bốn trăm lẻ một triệu, tám trăm năm mươi hai ngàn, bảy trăm tám mươi tám đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 231.167.077 đồng (Hai trăm ba mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi bảy ngàn, không trăm bảy mươi bảy đồng), tiền lãi do chậm thanh toán là 170.685.711 đồng (Một trăm bảy mươi triệu, sáu trăm tám mươi lăm ngàn, bảy trăm mười một đồng). Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần D về việc buộc Công ty TNHH X phải thanh toán số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại.

3. Về án phí:

3.1 Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty TNHH X phải chịu án phí là 20.074.112 đồng (Hai mươi triệu, không trăm bảy mươi bốn ngàn, một trăm mười hai đồng).

Hoàn trả cho Công ty Cổ phần D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.844.920 (Hai mươi mốt triệu, tám trăm bốn mươi bốn ngàn, chín trăm hai mươi) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2023/0003284 ngày 10/5/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.

3.2. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:

Công ty TNHH X không phải chịu án phí phúc thẩm. H1 lại cho Công ty TNHH X số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 đồng theo Biên lai

thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2023/0005224 ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cục THA DS TPHCM;
  • - Chi cục THA DS TP. Thủ Đức;
  • - TAND TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Bích Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/KDTM-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 91/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger