Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày: 29/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hưng
  2. Bà Trần Thị Tuyết Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Xuân Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lữ Phương Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024, đối với:

Bị cáo: Lê Đức S, sinh năm 1992 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn Kim Sơn, phường Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn, Tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: nhà số 117A đường Kha Vạn Cân, Tổ 8A, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức Nhường và bà Lê Thị Dương;

Tiền án:

  • - Ngày 02/11/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 162 ngày 02/11/2015. (Chưa đóng án phí, chưa được xóa án tích). Bị can chấp hành hình phạt tù xong vào ngày 16/07/2016;
  • - Ngày 09/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 371 ngày 09/9/2020. (Chưa đóng án phí, chưa được xóa án tích). Bị can chấp hành hình phạt tù xong vào ngày 20/7/2023;

Tiền sự: Ngày 05/04/2021, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 168/2021/QĐ-TA, thời hạn 21 tháng. Chấp hành xong vào ngày 20/10/2022;

Bị tạm giam ngày 02/12/2023.

Nhân thân:

  • - Ngày 10/9/2010, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù giam về hành vi Cướp giật tài sản theo bản án số 196/HSST ngày 10/9/2010. (Đã đóng án phí đầy đủ, đã xóa án tích). Bị can chấp hành hình phạt tù xong vào ngày 01/5/2012.
  • - Ngày 04/7/2013, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 02 năm về hành vi Trộm cắp tài sản theo bản án số 166 ngày 04/7/2013. (Đã đóng án phí đầy đủ, đã xóa án tích). Bị can chấp hành hình phạt tù xong vào ngày 16/5/2015.
  • - Ngày 30/5/2017, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 21 tháng theo Quyết định số 187/2017/QĐ-TA, chấp hành xong quyết định ngày 01/12/2018.
  • - Ngày 05/02/2013, bị Công an thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng. Bị can đã nộp phạt đầy đủ.
  • - Ngày 04/02/2019, bị Công an quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bắt, lập danh chỉ bản số PVC989 về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Uỷ ban nhân dân Phường 26, quận Bình Thạnh đã có Quyết định hủy quyết định đưa người vào CSXH số 97/QĐUB ngày 26/04/2019.
  • - Ngày 12/05/2019, bị Công an quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bắt, lập danh chỉ bản số PVC1987 về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Uỷ ban nhân dân Phường 26, quận Bình Thạnh đã có Quyết định hủy quyết định đưa người vào CSXH số 257/QĐUB ngày 13/08/2019.
  • - Ngày 24/09/2019, bị Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bắt, lập danh chỉ bản số NX5377 về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh đã tiến hành gửi công văn đến Tòa án nhân dân quận Gò Vấp để xác minh. Ngày 11/03/2024, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh có công văn số 82 trả lời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh là: Vào các năm 2019-2020, trong kho lưu trữ của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp không có hồ sơ xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đức S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 50 phút ngày 01/12/2023, tại trước nhà số 79 đường Ung Văn Khiêm, Phường 25, quận Bình Thạnh, Tổ 363 Công an quận Bình Thạnh tiến hành kiểm tra xe mô tô biển số: 59Y2- 725.83 do Lê Đô Thành chở Lê Đức S. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của Lê Đức S cất giấu 01 túi nylon chứa tinh thể rắn không màu S khai là ma túy nên bàn giao cho Công an phường 25, quận Bình Thạnh tiến hành thu giữ, niêm phong tang vật và lập hồ sơ xử lý.

Tại Cơ quan Công an, S khai nhận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/12/2023, tại bãi đất trống đối diện số 16 đường Bùi Viện, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, S gặp 01 người đàn ông (chưa rõ lai lịch) để mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua ma túy, S về nhà sử dụng một phần, số ma túy còn lại S để trong túi quần jean phía trước bên phải rồi nhờ Thành chở về nhà thì bị Công an kiểm tra, phát hiện như trên. Việc S sử dụng và cất giấu ma túy thì Thành không biết.

Kết quả xét nghiệm: S dương tính với Methamphetamine phù hợp với lời khai của S và kết quả giám định. Thành xét nghiệm âm tính.

Kết luận giám định số 13523/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3187g loại Methamphetamine. Sau khi giám định tinh thể không màu còn lại có khối lượng là: 0,2659g (BL: 57)

Vật chứng thu giữ:

  • - 1 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2659g.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung SM-J730G là tài sản cá nhân của S, không dùng để liên lạc mua ma túy;
  • - 01 áo sơ mi tay dài màu trắng, ống tay áo màu xanh; 01 nón lưỡi trai màu trắng; 01 quần jean dài màu đen, 01 nón bảo hiểm màu đen có chữ “Dead pool”; 01 đôi dép màu xanh đen là trang phục S mặc khi phạm tội.

Trách nhiệm dân sự: Không

Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKSBTh ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, đã truy tố bị can Lê Đức S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2. Tại phiên tòa, Bị cáo Lê Đức S khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bị cáo Lê Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điển h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức S từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tiêu hủy:
    • - 1 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2659g.
    • - 1 áo sơ mi tay dài màu trắng, ống tay áo màu xanh; 01 nón lưỡi trai màu trắng; 01 quần jean dài màu đen, 01 nón bảo hiểm màu đen có chữ "Dead pool"; 01 đôi dép màu xanh đen là trang phục S mặc khi phạm tội.
  • + Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Samsung SM-J730G là tài sản cá nhân của S, không dùng để liên lạc mua ma túy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định.

3. Phần Tranh luận:

Trong phần tranh luận bị cáo không tham gia tranh luận.

4. Trong lời nói sau cùng:

Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Lê Đức S tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Lê Đức S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Đây là vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Lê Đức S thực hiện. Lúc 21 giờ 20 phút ngày 01/12/2023, tại trước nhà số 79 đường Ung Văn Khiêm, Phường 25, quận Bình Thạnh, tổ tuần tra 363 - Công an quận Bình Thạnh kiểm tra hành chính Lê Đức S. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của Lê Đức S cất giấu 01 túi nylon chứa tinh thể rắn không màu S khai là ma túy nên bàn giao cho Công an phường 25, Quận Bình Thạnh tiến hành thu giữ, niêm phong tang vật và lập hồ sơ xử lý.

Tại Cơ quan Công an, S khai nhận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/12/2023, tại bãi đất trống đối diện số 16 đường Bùi Viện, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, S gặp 01 người đàn ông (chưa rõ lai lịch) để mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau khi mua ma túy, S về nhà sử dụng một phần, số ma túy còn lại S để trong túi quần jean phía trước bên phải rồi nhờ Thành chở về nhà thì bị Công an kiểm tra, phát hiện như trên. Việc S sử dụng và cất giấu ma túy thì Thành không biết.

Căn cứ kết luận giám định số 13523/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3187g loại Methamphetamine. Sau khi giám định tinh thể không màu còn lại có khối lượng là: 0,2659g. Với hành vi như đã nêu trên của bị cáo, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách hiệm hình sự:

[3.1] Xét tính chất của vụ án là nghiệm trọng, bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đây là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, đến sức khỏe của con người, làm lây lan tệ nạn nghiệp ngập ma túy trong xã hội mà còn gây khó khăn trong việc phòng chống các tội phạm về ma túy và các tệ nạn khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án phù hợp, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, chấp hành pháp luật, đồng thời giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3.2] Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử lý hành chính cai nghiện bắc buộc, có tiền án về các tội “trộm cắp tài sản”, “Cướp giật tài sản”, nay lại thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm h, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[3.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tiêu hủy:
    • - 1 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2659g.
    • - 1 áo sơ mi tay dài màu trắng, ống tay áo màu xanh; 01 nón lưỡi trai màu trắng; 01 quần jean dài màu đen, 01 nón bảo hiểm màu đen có chữ "Dead pool"; 01 đôi dép màu xanh đen là trang phục S mặc khi phạm tội.
  • + Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Samsung SM-J730G là tài sản cá nhân của S, không dùng để liên lạc mua ma túy.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo không rõ lai lịch. Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh đang tiến hành xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điển h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Lê Đức S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 12 năm 2023.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tiêu hủy:
    • - 1 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2659g.
    • - 1 áo sơ mi tay dài màu trắng, ống tay áo màu xanh; 01 nón lưỡi trai màu trắng; 01 quần jean dài màu đen, 01 nón bảo hiểm màu đen có chữ "Dead pool"; 01 đôi dép màu xanh đen là trang phục S mặc khi phạm tội.
  • + Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Samsung SM-J730G là tài sản cá nhân của S, không dùng để liên lạc mua ma túy.
  • (Tình trạng giao nhận vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 17/4/2024 giữa Công an quận Bình Thạnh với Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH/13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • VKSND quận Bình Thạnh;
  • - VKSND TP.HCM
  • - Công an quận Bình Thạnh;
  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hồ Minh Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đức sỹ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger