|
TAND HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 91/2024/HSST Ngày 21/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Lệ Thủy; Ông Lò Việt Hưng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 21/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 95/2024/TLST-HS ngày 02/6/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: SÙNG A SANG; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/6/1967, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: không biết chữ; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Sùng Giảng C (đã chết, không xác định được năm sinh) và bà Giàng Thị D (đã chết, không xác định được năm sinh); Gia đình bị cáo có 4 anh, chị, em; bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có vợ là Mùa Thị S, sinh năm 1972. Ngoài ra, bị cáo còn chung sống như vợ chồng (không có đăng ký kết hôn) với Thào Thị D1 (sinh năm 1971) và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/01/2024, tạm giam từ ngày 20/01/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay (có mặt).
Người bào chữa: Ông Nguyễn Công H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).
Người phiên dịch: Chị Giàng Thị D2, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản Đ, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).
Người làm chứng:
- Lò Văn S1, sinh năm 1982
- Hà Văn P, sinh năm 1999.
(Cả hai người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Buổi chiều một ngày trong tháng 12/2023, Sùng A S2 đang ở lán ruộng của gia đình tại bản Huổi Cầy, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu thì có một người đàn ông không rõ lai lịch đến gặp. Qua nói chuyện, S2 đã mua của người này 01 gói Heroine với giá 250.000 đồng. Sau đó, S2 chia số Heroine mua được thành các gói nhỏ, để sử dụng và bán. Sau khi chia Heroine, S2 cất giấu một số gói vào vị trí dưới gối tại giường ngủ của mình, một số gói còn lại S2 cất giấu vào lọ nhựa màu trắng để trong túi vải treo ở vách trong lán ruộng. Các ngày sau đó, S2 đã nhiều lần lấy Heroine ra sử dụng bằng hình thức hít.
Đến khoảng 08 giờ ngày 11/01/2024, khi Sùng A S2 đang ở lán ruộng của gia đình thì có Lò Văn S1 (sinh năm 1982, trú tại bản Củng, xã T, huyện T) gọi điện vào số thuê bao 0343151704 của S2 hỏi S2 có ở lán ruộng không để lên chơi. Qua điện thoại, S2 nhờ S1 mua giúp một cái săm xe mô tô để thay, vì xe mô tô của S2 bị thủng săm, S1 đồng ý. Khoảng 10 giờ cùng ngày, S2 đang đi bộ trong bản Huổi Cầy, xã T, huyện T thì thấy S1 đi xe mô tô đến, đi cùng với S1 còn có Hà Văn P (sinh năm 1999, trú tại bản Củng, xã T, huyện T). Khi gặp S2, P xuống xe đi bộ, còn S1 điều khiển xe mô tô chở S2 đi về lán ruộng. Khi đến gần đến lán ruộng của S2 thì S2 đi vào trong lán ruộng còn S1 điều khiển xe quay lại đón P. Lúc này, S2 lấy từ trong lọ nhựa màu trắng trong túi vải treo trên vách lán ra 03 gói Heroine (đều gói bằng nilon màu hồng), S2 cất vào túi quần đang mặc. Khi S1 và P đi vào bên trong lán ruộng của gia đình S2, S1 đưa cho S2 chiếc săm xe mô tô mà S1 đã mua hộ với giá 70.000 đồng. S2 định trả tiền cho S1 thì S1 nói: không cần trả tiền mà bán luôn cho S1 01 gói Heroine, trừ vào tiền mua săm xe. S1 đưa thêm cho S2 50.000 đồng, nói muốn mua 02 gói Heroine (trong đó có 01 gói đổi bằng chiếc săm xe mà S1 đã mua hộ và 50.000 đồng để mua thêm một gói Heroine nữa), S2 đồng ý. S2 cầm tiền cùng săm xe rồi lấy từ trong túi quần ra 02 gói Heroine (đều gói bằng nilon màu hồng) đưa cho S1. S1 xin phép S2 cho S1 và P sử dụng Heroine trong lán ruộng của S2 thì S2 đồng ý. Lúc này, P cũng đưa cho S2 số tiền 50.000 đồng để mua thêm 01 gói Heroine nữa. S2 cầm tiền mà P đưa rồi lấy từ trong túi quần của mình ra 01 gói Heroine (được gói bằng nilon màu hồng) đưa cho P. Sau đó, S1 mở 01 gói Heroine vừa mua ra, bẻ một ít đưa cho S2 sử dụng. S2 ngồi trong lán và sử dụng Heroine bằng hình thức hít, còn S1 và P ngồi ở ghế gỗ gần cửa nhà S2 sử dụng Heroine bằng hình thức tiêm chích. Sau khi sử dụng H1, S1 và P đi về. Trên đường đi về, P và S1 lấy gói Heroine còn lại mà S1 mua được ra sử dụng thì bị lực lượng Công an xã T, huyện T phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính hồi 13 giờ ngày 11/01/2024 tại bản Củng, xã T, huyện T, thu giữ 02 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng).
Trên cơ sở lời khai của S1 và P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở và đối với Sùng A S2, thu giữ tại túi vải treo trên vách lán của Sùng A S2 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 01 gói Heroine (được gói bằng nilon màu xanh); thu giữ tại chiếu trong giường ngủ của Sùng A S2 01 gói Heroine (được gói bằng nilon màu hồng); thu giữ 01 túi săm xe mô tô (còn nguyên vẹn) và số tiền 50.000 đồng. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Sùng A S2 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím cơ, màu đen có lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0343.151.xxx (điện thoại đã qua sử dụng).
Kết luận giám định số 118 ngày 11/01/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 165 ngày 15/01/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số chất bột màu trắng thu giữ của Sùng A S2 có tổng khối lượng 0,29 gam; là ma túy, loại: Heroine”. Kết luận giám định số 166 ngày 15/01/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số tiền 50.000 đồng thu giữ của Sùng A S2 gửi giám định là tiền thật”.
Kết quả kiểm tra điện thoại của Lò Văn S1 và Sùng A S2 xác định trong khoảng thời gian từ 08 giờ 07 phút đến 09 giờ 26 phút ngày 11/01/2024, có các cuộc gọi từ điện thoại của Lò Văn S1 (số thuê bao 0976589487) đến số thuê bao 0343151704 có lưu tên trong danh bạ của S1 là “Bố Sang”. Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của Sùng A S2, Hà Văn P, Lò Văn S1 đều có kết quả dương tính với ma túy.
Vật chứng: 0,29 gam Heroine thu giữ của Sùng A S2, đã trích 0,16 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật); còn lại 0,13 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lọ nhựa màu trắng; 02 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 túi nilon màu cam, bên ngoài có ghi nhãn hiệu “GOLL.THAI”, size 2.75/3.00-17, bên trong đựng 01 săm xe mô tô (túi đựng còn nguyên vẹn); số tiền 50.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím cơ, màu đen (điện thoại đã qua sử dụng) có lắp 01 thẻ sim; 02 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng) thu giữ của Hà Văn P và Lò Văn S1. Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản theo quy định.
Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Sùng A S2 phạm hai tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251/Bộ luật hình sự và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256/Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai những người làm chứng Lò Văn S1, Hà Văn P phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sùng A S2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy và tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm d khoản 2 Điều 256 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Sùng A S2 mức án từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng bán trái phép chất ma túy; Tổng hợp hình phạt của cả hai tội. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu 0,13 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lọ nhựa màu trắng; 02 vỏ bì niêm phong ban đầu của Sùng A S2 và 02 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng) thu giữ của Hà Văn P và Lò Văn S1 để tiêu hủy; Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước 01 săm xe mô tô chưa qua sử dụng của Sùng A S2; Tịch thu số tiền 50.000 đồng, truy thu số tiền 50.000 đồng tiền bán trái phép chất ma túy mà có của Sùng A S2 để sung vào ngân sách Nhà nước. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím cơ, màu đen (điện thoại đã qua sử dụng) có lắp 01 thẻ sim.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Bị cáo Sùng A S2 là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, từ nhỏ không được học hành, khả năng nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt đối với tội Mua bán trái phép chất ma túy. Đối với tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, đề nghị áp dụng tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 256/Bộ luật hình sự, do sau khi mua được Heroine của bị cáo S2, chỉ một mình Lò Văn S1 có 01 lần xin bị cáo S2 “Cho chúng tôi sử dụng ma túy tại lán”, Lò Văn P1 không xin phép bị cáo S2 sử dụng ma túy tại lán ruộng của bị cáo S2. Vì thế đề nghị áp dụng mức hình phạt về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 256/Bộ luật hình sự để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên không nhất trí với quan điểm của người bào chữa về việc áp dụng hình phạt về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 256/Bộ luật hình sự đối với bị cáo, do bị cáo S2 đã có hành vi chứa chấp 02 người sử dụng trái phép chất ma túy tại lán ruộng thuộc quyền quản lý, sử dụng của bị cáo.
Lời nói sau cùng, bị cáo Sùng A S2 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và người bào chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Người bào chữa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền quy định tại Điều 72, Điều 73/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Sau khi mua trái phép 01 gói Heroine từ một người không rõ lai lịch với giá 250.000 đồng. Sau đó mang Heroine về nhà tại bản H, xã T, huyện T chia thành các gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán. Đến khoảng 10 giờ ngày 11/01/2024, tại lán ruộng của gia đình mình Sùng A S2 đã hai lần bán trái phép chất ma túy, lần thứ nhất bán 02 gói Heroine cho Lò Văn S1 lấy 50.000 đồng và 01 săm xe mô tô, lần thứ hai S2 đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Hà Văn P lấy số tiền 50.000 đồng. Sau khi bán Heroine, Sùng A S2 đã đồng ý cho 02 người là Hà Văn P và Lò Văn S1 sử dụng trái phép Heroine bằng hình thức tiêm chích tại lán ruộng của gia đình Sùng A S2 thuộc bản H, xã T, huyện T. Khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Sùng A S2, Cơ quan điều tra thu giữ 02 gói Heroine bị cáo đã chia ra, chưa kịp bán có tổng khối lượng 0,29 gam. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và d khoản 2 Điều 256/Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi bị cáo Sùng A S2 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Sùng A S2 là đối tượng nghiện chất ma túy, mục đích mua trái phép chất ma túy ngoài việc sử dụng cho bản thân, bị cáo còn bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác và tạo điều kiện cho các đối tượng nghiện sử dụng chất ma túy tại nơi ở của mình để thu lời bất chính.
[5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sùng A S2 được sinh ra trong gia đình lao động, nhưng không chịu khó tu dưỡng, làm ăn chân chính mà lại ăn chơi đua đòi, bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân và bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác để thu lời bất chính, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố các hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Đối với quan điểm của người bào chữa về việc đề nghị áp dụng hình phạt theo tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 256/Bộ luật hình sự đối với bị cáo Sùng A S2 về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy nhằm đảm bảo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận định: Tại thời điểm để cho Lò Văn S1, Lò Văn P1 sử dụng trái phép chất ma túy tại lán ruộng gia đình mình, khi đó chỉ có Sùng A S2 cùng hai đối tượng Lò Văn S1 và Lò Văn P1. Việc Lò Văn S1 có xin phép bị cáo S2 “bọn em sử dụng ở đây nhé” (Bút lục số 100 - lời khai Lò Văn S1). Lời khai Lò Văn P1 thể hiện “Sau đó chúng tôi hỏi anh S2 cho sử dụng Heroine tại lán thì anh S2 đồng ý và bảo sử dụng hết, đừng mang về” (Bút lục số 104 - lời khai Lò Văn P1), đồng nghĩa với việc Lò Văn S1 xin phép bị cáo S2 cho mình và cả Lò Văn P1 cùng sử dụng chất ma túy tại lán của bị cáo S2. Bị cáo S2 có trả lời “sử dụng thì sử dụng, đừng mang về” đồng nghĩa với việc bị cáo S2 đồng ý cho cả Lò Văn S1 và Lò Văn P1 cùng sử dụng Heroine tại lán ruộng nhà mình. Vì vậy quan điểm của người bào chữa về việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt theo tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 256/Bộ luật hình sự đối với bị cáo S2 để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
Cần có một mức án tương xứng với các hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, từ nhỏ không được học hành, khả năng nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Sùng A S2 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52/Bộ luật hình sự.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp chính là trồng trọt, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khỏa 5 Điều 251 và khoản 3 Điều 256/Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[7]. Về vật chứng: Đối với 0,13 gam Heroine còn lại; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lọ nhựa màu trắng; 02 vỏ bì niêm phong vật chứng của Sùng A S2 và 02 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng) thu giữ của Hà Văn P và Lò Văn S1 là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và các vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, đã qua sử dụng có lắp 01 thẻ sim là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo. 01 săm xe mô tô chưa qua sử dụng bị cáo có được từ việc trao đổi trái phép Heroine nên cần tịch thu hóa giá, sung vào ngân sách Nhà nước. Số tiền 50.000 đồng, Sùng A S2 có được do bán trái phép chất ma túy mà có đã thu giữ, nên cần phải tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước. Số tiền 50.000 đồng còn lại bị cáo có được từ việc bán trái phép chất ma túy mà có, chưa được thu giữ cần phải truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[8]. Về vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc H1, bị cáo Sùng A S2 khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch tại bản Đ, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn S1 và Hà Văn P, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
[9]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa có đề nghị được miễn án phí nên sẽ được miên án phí HSST.
[10]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 256, Điều 38, Điều 55, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; khoản 2, Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng A S2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A S2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chịu chung hình phạt cho cả hai tội là 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về vật chứng: Tịch thu 0,13 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 lọ nhựa màu trắng; 02 vỏ bì niêm phong vật chứng của Sùng A S2 và 02 bơm kim tiêm (đã qua sử dụng) thu giữ của Hà Văn P và Lò Văn S1 để tiêu hủy; Tịch thu, hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước 01 săm xe mô tô chưa qua sử dụng của Sùng A S2. Tịch thu 50.000 (năm mươi nghìn đồng); truy thu 50.000 (năm mươi nghìn đồng) bị cáo Sùng A S2 bán trái phép chất ma túy mà có để sung vào ngân sách Nhà nước. Trả lại cho bị cáo Sùng A S2 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, đã qua sử dụng có lắp 01 thẻ sim.
Các vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.
- Về án phí: Bị cáo Sùng A S2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Trung Phước |
Bản án số 91/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 91/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma tuý và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sùng A S bán trái phép chất MT nhiều lần và cho nhiều người sử dụng trái phép chất MT tại nơi ở của mình. Bị cáo kháng cáo, tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo rút KC, vụ án được đình chỉ xét xử PT
