|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HSST
Ngày: 13-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Chí.
Ông Võ Trường Tam .
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Tiến Diễm Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/TLST - HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Huỳnh Công V, sinh ngày: 26/12/1977.
Tên gọi khác: Út Vạn .
Nơi thường trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn Đ và bà Huỳnh Thị K (đã chết); Bản thân có vợ tên Nguyễn Thị Bạch T, có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án – tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: Nguyễn Hữu Â, sinh ngày: 01/01/1976.
Tên gọi khác: Ú.
Nơi thường trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Bùi Thị T1 (đã chết); Bản thân có vợ tên Nguyễn Thị C, có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án – tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 46/QĐ-XPHC, ngày 30/9/2019, bị Công an xã P, huyện C xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3/ Họ và tên: Nguyễn Bữu N, sinh ngày: 15/11/1966.
Nơi thường trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Bùi Thị T1 (đã chết); Bản thân có vợ tên Lê Kim D có 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1996; Tiền án – tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
4/ Họ và tên: Lê Trúc P, sinh ngày: 18/12/1972.
Nơi thường trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: thợ hồ; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị H; Bản thân có vợ tên Tống Thị T3, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án –tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 17/6/2011, bị Công an huyện C xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng, Quyết định số 176/QĐ-XPHC, ngày 04/9/2020, bị Công an xã L, huyện C xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép và Quyết định số 40/QĐ-XPHC, ngày 31/01/2022, bị Công an xã L, huyện C xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
5/ Họ và tên: Huỳnh Văn T4, sinh ngày: 01/01/1964.
Nơi thường trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn Đ và bà Huỳnh Thị K (đã chết); Bản thân có vợ tên Võ Thị G, có 03 con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án –tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
6/ Họ và tên: Huỳnh Văn K1, sinh ngày: 01/01/1984.
Nơi thường trú: ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: thợ hồ; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T4 và bà Võ Thị G; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án –tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
7/ Họ và tên: Lâm Toàn H1, sinh ngày: 20/5/1975.
Tên gọi khác: D1.
Nơi thường trú: A P, phường A, quận B, Tp .; Nơi ở hiện tại: khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Hoa; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Phát B1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2 (đã chết); Bản thân có vợ tên Lê Thị Hồng P1, có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2001; Tiền án –tiền sự: không; Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
8/ Họ và tên: Nguyễn Hồng Â1, sinh ngày: 12/7/1985.
Tên gọi khác: T5.
Nơi thường trú: khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B2 và bà Nguyễn Thị G1; Bản thân có vợ tên Sơn Thị Đà R, có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh 2020; Tiền án –tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
9/ Họ và tên: Phạm Công T6, sinh ngày: 14/4/1992.
Nơi thường trú: khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: thợ hồ; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Quang P2 và bà Nguyễn Thị Q; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án –tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
10/ Họ và tên: Nguyễn Việt L, sinh ngày: 05/8/1988.
Nơi thường trú: khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T7; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án –tiền sự: không; Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Nguyễn Văn T8, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Cư trú: khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
2/ Phạm Minh V1, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
Cư trú: khu phố L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 02/5/2024, Nguyễn Hồng Â1, Phạm Công T6, Nguyễn Việt L, Phạm Minh V1, Nguyễn Văn T8 đến nhà của Lâm Toàn H chơi, thì H1 nói có con gà nòi màu trắng, nặng 2,5kg và nhờ kiếm 01 con gà để đá ăn tiền. Sau đó, Hồng Â1 gọi cho Huỳnh Công V hỏi thì V kêu Hồng Â1 chờ để kiếm gà và cùng lúc này Nguyễn Hữu  gọi cho V cũng yêu cầu kiếm gà để đá. Nên V kêu Hồng Â1 đem gà đến nhà V ở ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An để đá với gà của Hữu Â.
Sau khi hẹn và có gà để đá, Hồng Â1, H1, L, T6 điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn còn T8 và V1 do bận việc nên không đi theo nhưng có xin H1, Hồng Â1 cược giúp cho mỗi người 500.000 đồng. Đến 10 giờ 10 phút cùng ngày, V mang theo 01 (một) cân đồng hồ, loại 5kg và 04 (bốn) cuộn băng keo dẫn cả nhóm đến bãi đất trống cách nhà V khoảng 30m. Tại đây, V đã tổ chức 01 trận gà thắng thua bằng tiền giữa gà nòi màu trắng, trọng lượng 2,5kg của Lâm Toàn H1, do Phạm Công T6 ôm gà cho Hồng Â1 băng cựa và thả gà, đá với gà nòi màu điều, trọng lượng 2,5kg của Nguyễn Hữu Â, do Nguyễn Bữu Ngô Ô gà cho Hữu  băng cựa và Lê Trúc P thả gà. Trận này đá đồng với số tiền tham gia cá cược mỗi bên là 3.200.000 đồng do V làm trọng tài, bên thắng phải đưa cho V tiền xâu là 250.000 đồng. Cánh gà nòi màu trắng của H1 có Hồng Ân tham gia số tiền 300.000 đồng, Nguyễn Việt L tham gia số tiền 1.700.000 đồng, Nguyễn Văn T8 tham gia số tiền 500.000 đồng, Phạm Minh V1 tham gia số tiền 500.000 đồng và Lâm Toàn H1 tham gia số tiền 200.000 đồng (tiền cược xác gà). Cánh gà nòi màu điều của Hữu  có Hữu Ân tham gia số tiền 1.200.000 đồng (có 200.000 đồng tiền cược xác gà), Nguyễn Bữu N tham gia số tiền 1.000.000 đồng, Lê Trúc P tham gia số tiền 300.000 đồng, Huỳnh Văn T4 tham gia số tiền 500.000 đồng, Huỳnh Văn K1 tham gia số tiền 200.000 đồng. Khi trận gà đang đá, chưa có kết quả thắng thua thì bị lực lượng Công an xã P, huyện C bắt quả tang, thu giữ tang vật gồm: 02 (hai) con gà nòi, 02 (hai) cặp cựa sắt màu trắng, 01 (một) cân đồng hồ màu xanh, loại 05kg, 02 (hai) ca nhựa màu trắng, 01 (một) ly nhựa màu đỏ, 01 (một) vỏ đệm.
Tại Bản cáo trạng số 91/CT-VKSCG ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố các bị cáo: Huỳnh Công V, Nguyễn Hữu Â, Nguyễn Bữu N, Lê Trúc P, Huỳnh Văn T4, Huỳnh Văn K1, Lâm Toàn H1, Nguyễn Hồng Â1, Phạm Công T6, Nguyễn Việt L, cùng về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Bị cáo Huỳnh Công V số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Bị cáo Lê Trúc P số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Bị cáo Huỳnh Văn T4 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
Bị cáo Huỳnh Văn K1 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
Bị cáo Lâm Toàn H1 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Hồng Â1 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Bị cáo Phạm Công T6 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Việt L số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Hữu  số tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Bữu N số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) ca nhựa màu trắng; 01 (một) ly nhựa màu đỏ; 01 (một) cân đồng hồ màu xanh, loại 05kg của bị cáo Huỳnh Công V; 01 (một) vỏ đệm của bị cáo Lâm Toàn H1 và 01 (một) thẻ sim điện thoại di động mang số 0335.599.240 của bị cáo Nguyễn Hữu  do dùng liên lạc thực hiện hành vi đánh bạc.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu đen của bị cáo Nguyễn Hữu  do dùng liên lạc thực hiện hành vi đánh bạc.
Đối với số tiền 7.200.000 đồng đã thu giữ của các bị cáo. Đề nghị, tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 5.900.000 đồng (năm triệu chín trăm ngàn đồng) các bị cáo dùng đánh bạc, cụ thể: 200.000 đồng của bị cáo Lâm Toàn H1; 1.200.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hữu Â; 1.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Bữu N; 300.000 đồng của bị cáo Lê Trúc P; 500.000 đồng của bị cáo Huỳnh Văn T4; 200.000 đồng của bị cáo Huỳnh Văn K1; 300.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hồng Â1; 1.700.000 đồng của bị cáo Nguyễn Việt L và 500.000 đồng của Nguyễn Văn T8. Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng) để đảm bảo thi hành án, cụ thể: 800.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu  và 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Hồng Â1.
Buộc anh Phạm Minh V1 giao nộp tiếp số tiền 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) dùng đánh bạc. Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước.
Đối với 02 (hai) con gà đá và 02 (hai) cặp cựa sắt đã thu giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành tiêu hủy, là phù hợp. Nên đề nghị không xem xét. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu vàng thu giữ của Lâm Toàn H1; 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave Alpha, biển số: 62M1-055.70 thu giữ của Nguyễn Hữu Â; 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave RSX, biển số: 62M1-222.69 thu giữ của Phạm Công T6; 01 (một) xe mô tô Honda, loại Future, biển số: 51X7-8290 và 01 (một) điện thoại di động Realme, màu đen thu giữ của Nguyễn Việt L. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra xét thấy không liên quan đến việc đánh bạc nên đã giao trả cho các bị cáo là phù hợp. Nên đề nghị không xem xét
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Vào khoảng 10 giờ 10 phút ngày 02/5/2024 tại bãi đất trống thuộc ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Long An, Huỳnh Công V đứng ra tổ chức cho các đối tượng đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 6.400.000 đồng và bị cáo V sẽ được hưởng lợi số tiền 250.000 đồng từ bên thắng, cụ thể: cánh gà nòi màu trắng của Lâm Toàn Huê do Phạm Công T6 ôm gà cho Nguyễn Hồng Âl băng cựa, thả gà. Số tiền dùng đánh bạc: Nguyễn Hồng Â1 tham gia 300.000 đồng, Nguyễn Việt L tham gia 1.700.000 đồng, Nguyễn Văn T8 tham gia 500.000 đồng và Phạm Minh V1 tham gia 500.000 đồng (T8 và V1 không có mặt trực tiếp) và Lâm Toàn H1 tham gia 200.000 đồng (cược xác gà với Nguyễn Hữu Â). Cánh gà nòi màu điều của Nguyễn Hữu  do Nguyễn Bữu Ngô Ô gà cho Nguyễn Hữu  băng cựa và Lê Trúc P thả gà. Số tiền dùng đánh bạc: Nguyễn Hữu  tham gia 1.200.000 đồng (cược trong sổ 1.000.000 đồng và cược xác gà 200.000 đồng), Nguyễn Bữu N tham gia 1.000.000 đồng, Lê Trúc P tham gia 300.000 đồng, Huỳnh Văn T4 tham gia 500.000 đồng và Huỳnh Văn K1 tham gia 200.000 đồng. Đến 10 giờ 20 phút cùng ngày, khi hai bên cánh gà đang đá, chưa có kết quả thắng thua thì bị lực lượng công an xã P, huyện C bắt quả tang.
[3] Qua điều tra, xét thấy hành vi của bị cáo Huỳnh Công V không cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự vì chưa thỏa mãn mặt khách quan của tội phạm, nhưng hành vi của bị cáo V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo còn lại, theo các bị cáo khai nhận thì tổng số tiền đánh bạc là 6.400.000 đồng, tức trên 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[4] Đối với Nguyễn Văn T8 và Phạm Minh V1 không trực tiếp tham gia đánh bạc mà đặt cược mỗi người 500.000 đồng thông qua Lâm Toàn H1, Nguyễn Hồng Â1 và không có mặt, không được báo tổng số tiền đá sổ của cả trận gà, do đó, hành vi của T8 và V1 với số tiền cược mỗi người 500.000 đồng, chưa đủ định lượng, nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C đã có Công văn số 453/CV-ĐTTH, ngày 05/11/2024 chuyển công an xã P, huyện C để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền, là phù hợp.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm trật tự công cộng, các bị cáo nhận biết đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác, nên Nhà nước ta đấu tranh ngăn chặn tệ nạn cờ bạc trong xã hội để góp phần giữ gìn an ninh, trật tự xã hội. Do đó hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Trong vụ án cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của từng bị cáo khi lượng hình:
[6.1] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[6.2] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự: các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Hữu Â, Nguyễn Bữu N có anh ruột Nguyễn Bùi Lê L1 liệt sĩ, bị cáo Nguyễn Việt L có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính, bị cáo Huỳnh Văn T4 là người cao tuổi và xét thấy số tiền các bị cáo dùng đánh bạc không cao, vừa vượt qua mức định lượng, nên các bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6.3] Xét về vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án và nhân thân các bị cáo: Bị cáo V không tham gia cược tiền, là người đứng ra tổ chức làm trọng tài, nhưng chưa hưởng lợi; bị cáo Phạm Công T6 không tham gia cược tiền, nhưng là đồng phạm giúp sức với hành vi ôm gà cho Nguyễn Hồng Â1 băng cựa; các bị cáo còn lại Nguyễn Hữu Â, Nguyễn Bữu N, Lê Trúc P, Huỳnh Văn T4, Huỳnh Văn K1, Lâm Toàn H1, Nguyễn Hồng Â1 và Nguyễn Việt L cùng tham gia đánh bạc, nhưng số tiền tham gia có khác nhau. Lâm Toàn H1 và Nguyễn Hữu  là người cung cấp gà; Nguyễn Hồng Âl băng cựa, thả gà; Nguyễn Bữu Ngô ôm gà; Nguyễn Hữu  băng cựa và Nguyễn Trúc P3 thả gà. Xét về nhân thân các bị cáo (08 bị cáo) đều có nhân thân tốt, chỉ có bị cáo Nguyễn Trúc P3 và Nguyễn Hữu  bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, nhưng đã được xóa tiền sự.
[7] Với những nhận định trên, xét thấy áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đã răn đe. Nhưng hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Công V, Lâm Toàn H1, Nguyễn Hồng Â1, Nguyễn Hữu Â, Nguyễn Bữu N và Nguyễn Trúc P3 là bằng nhau và cao hơn các bị cáo Phạm Công T6, Nguyễn Việt L, Huỳnh Văn T4 và Huỳnh Văn K1. Do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, nên cũng không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[8] Đối với số tiền thu lợi bất chính, tại phiên tòa bị cáo V khai nhận là nếu sau khi hai bên chung tiền thắng, thua xong thì bị cáo Vạn hưởng lợi số tiền 250.000 đồng, tuy nhiên khi hai bên cánh gà đang đá chưa phân thắng thua thì bị công an bắt quả tang, nên bị cáo V chưa hưởng lợi, nên không xem xét.
[9] Về tang vật thu giữ: căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự để xử lý như sau:
[9.1] Đối với 02 (hai) con gà đá và 02 (hai) cặp cựa sắt đã thu giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành tiêu hủy, là phù hợp.
[9.2] Đối với 02 (hai) ca nhựa màu trắng; 01 (một) ly nhựa màu đỏ; 01 (một) cân đồng hồ màu xanh, loại 05kg thu giữ của Huỳnh Công V và 01 (một) vỏ đệm thu giữ của Lâm Toàn H1, đây là các dụng cụ dùng phục vụ cho hành vi đánh bạc, xét thấy giá trị sử dụng không lớn, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với thẻ sim điện thoại di động mang số 0335.599.240 thu giữ của Nguyến Hữu Â2, dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy.
[9.3] Đối với 01 (một) điện thoại di động thu giữ của hiệu Realme, màu đen thu giữ của Nguyễn Hữu  sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
[9.4] Đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu vàng thu giữ của Lâm Toàn H1; 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave Alpha, biển số: 62M1-055.70 thu giữ của Nguyễn Hữu Â; 01 (một) xe mô tô Honda, loại Wave RSX, biển số: 62M1-222.69 thu giữ của Phạm Công T6; 01 (một) xe mô tô Honda, loại Future, biển số: 51X7-8290 và 01 (một) điện thoại di động Realme, màu đen thu giữ của Nguyễn Việt L. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra xét thấy không liên quan đến việc đánh bạc nên đã giao trả cho các bị cáo là phù hợp. Đối với 01 (một) điện thoại di động và sim số 0909.256.874 của Huỳnh Công V và 01 (một) điện thoại di động và sim số 0366.800.245 của Nguyễn Hồng Â1, sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, nhưng bị cáo V và Hồng Â1 khai trong lúc bỏ chạy đã ném bỏ mất điện thoại và sim số (bút lục số 249-250; 263-264) không thu giữ được, nên không xem xét.
[9.5] Đối với số tiền 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm ngàn đồng) thu giữ của các bị cáo: tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.900.000 đồng và tiếp tục tạm giữ số tiền 1.300.000 đồng để đảm bảo thi hành án, cụ thể:
Thu giữ của Lâm Toàn H1 số tiền 200.000 đồng, là tiền dùng đánh bạc (cược xác gà 200.000 đồng), nên tịch thu toàn bộ sung nộp ngân sách Nhà nước.
Thu giữ của Nguyễn Hữu  số tiền 2.000.000 đồng, có 1.200.000 đồng là tiền dùng đánh bạc (1.000.000 đồng đá sổ và 200.000 đồng cược xác gà), nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 800.000 đồng là tiền cá nhân không sử dụng đánh bạc, nhưng do áp dụng hình phạt tiền như đã nhận định tại phần [7], nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Thu giữ của Nguyễn Bữu N số tiền 1.000.000 đồng, là tiền dùng đánh bạc, nên tịch thu toàn bộ sung nộp ngân sách Nhà nước.
Thu giữ của Lê Trúc P số tiền 300.000 đồng, là tiền dùng đánh bạc, nên tịch thu toàn bộ sung nộp ngân sách Nhà nước.
Thu giữ của Huỳnh Văn T4 số tiền 500.000 đồng, là tiền dùng đánh bạc, nên tịch thu toàn bộ sung nộp ngân sách Nhà nước.
Thu giữ của Huỳnh Văn K1 số tiền 200.000 đồng, là tiền dùng đánh bạc, nên tịch thu toàn bộ sung nộp ngân sách Nhà nước.
Thu giữ của Nguyễn Hồng Â1 số tiền 800.000 đồng, có 300.000 đồng là tiền dùng đánh bạc, nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 500.000 đồng là tiền cá nhân không sử dụng đánh bạc, nhưng do áp dụng hình phạt tiền như đã nhận định tại phần [7], nên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Thu giữ của Nguyễn Việt L số tiền 1.700.000 đồng, là tiền dùng đánh bạc, nên tịch thu toàn bộ sung nộp ngân sách Nhà nước.
Thu giữ của Nguyễn Văn T8 số tiền 500.000 đồng, là tiền dùng đánh bạc, nên tịch thu toàn bộ sung nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, buộc Phạm Minh V1 giao nộp số tiền 500.000 đồng, dùng đánh bạc, tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định, đối với bị cáo Huỳnh Văn T4 (sinh năm 1964) là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo: Huỳnh Công V, Nguyễn Hữu Â, Nguyễn Bữu N, Lê Trúc P, Huỳnh Văn T4, Huỳnh Văn K1, Lâm Toàn H1, Nguyễn Hồng Â1, Phạm Công T6, Nguyễn Việt L, cùng phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
1/ Bị cáo Huỳnh Công V số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
2/ Bị cáo Nguyễn Hữu  số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
3/ Bị cáo Nguyễn Bữu N số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
4/ Bị cáo Lê Trúc P số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
5/ Bị cáo Huỳnh Văn T4 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
6/ Bị cáo Huỳnh Văn K1 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
7/ Bị cáo Lâm Toàn H1 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
8/ Bị cáo Nguyễn Hồng Â1 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
9/ Bị cáo Phạm Công T6 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
10/ Bị cáo Nguyễn Việt L số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự. Về tang vật:
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) ca nhựa màu trắng; 01 (một) ly nhựa màu đỏ; 01 (một) cân đồng hồ màu xanh, loại 05kg; 01 (một) vỏ đệm và 01 (một) thẻ sim điện thoại di động mang số 0335.599.240.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme màu đen.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 5.900.000 đồng (năm triệu chín trăm ngàn đồng), cụ thể: 200.000 đồng của bị cáo Lâm Toàn H1; 1.200.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hữu Â; 1.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Bữu N; 300.000 đồng của bị cáo Lê Trúc P; 500.000 đồng của bị cáo Huỳnh Văn T4; 200.000 đồng của bị cáo Huỳnh Văn K1; 300.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hồng Â1; 1.700.000 đồng của bị cáo Nguyễn Việt L và 500.000 đồng của Nguyễn Văn T8.
Buộc anh Phạm Minh V1 giao nộp tiếp số tiền dùng đánh bạc 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng) để đảm bảo thi hành án, cụ thể: 800.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu  và 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Hồng Â1.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo quyết định chuyển vật chứng số 65/QĐ-VKSCG, ngày 29/11/2024.
Về án phí: mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Huỳnh Văn T4 (do là người cao tuổi).
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 91/2024/HSST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN về đánh bạc
- Số bản án: 91/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Công V và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc"
