|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 91/2024/HS-ST Ngày 12 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Kim Duyên
- Bà Phạm Thị Minh Quế
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Việt Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Trung T, sinh ngày 04/7/1993, tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao dộng tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1968 và bà Đào Thanh N, sinh năm 1971; vợ là Đinh Thị Thùy D, sinh năm 2003 và 01 con, sinh năm 2024; tiền sự: Không;
Tiền án: 02.
Ngày 27/4/2011, T thực hiện hành vi Giết người. Tại Bản án số 31/2011/HS-ST ngày 22/8/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Trung T 06 năm tù về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999, tổng hợp với Bản án số 110/2019/HSST ngày 29/9/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Trung T 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản”, buộc Nguyễn Trung T phải chấp hành hình phạt tù chung của các Bản án là 08 năm tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/6/2009 đến ngày 24/8/2009 của Bản án số 110/2009/HSST ngày 29/9/2009 và phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, bản án xác định T “Tái phạm”. Ngày 11/11/2011, T đã nộp xong 200.000đồng tiền án phí; ngày 28/01/2016, chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).
Ngày 15/02/2017 và ngày 16/02/2017, T thực hiện hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”. Tại Bản án số 52/2017/HSST ngày 15/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử Nguyễn Trung T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt T 03 năm 06 tháng tù và phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, bản án xác định T “Tái phạm nguy hiểm”. Ngày 25/8/2017, T đã nộp xong 200.000đồng tiền án phí; ngày 23/5/2020, chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).
Nhân thân: Ngày 23/6/2009, T thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản”. Tại Bản án số 110/2009/HSST ngày 29/9/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử Nguyễn Trung T về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt T 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm 08 tháng và phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 05/01/2010, T đã nộp xong 200.000đồng tiền án phí. Thời điểm phạm tội ngày 23/6/2009, T 15 tuổi 10 tháng 19 ngày, nên được coi là không có án tích.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1991.
Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trung T là đối tượng có nhiều tiền án và đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, không có công ăn việc làm ổn định. Do muốn kiếm thêm thu nhập nên T đã cho người khác vay tiền với lãi suất cao. Quá trình điều tra xác định, trong khoảng thời gian từ ngày 30/3/2022 đến ngày 07/6/2024, T cho chị Nguyễn Thị Bích P vay tiền nhiều lần với lãi suất cao, mức lãi suất 5000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự để thu lợi bất chính, cụ thể:
Lần thứ 1: Ngày 30/3/2022, T cho chị P vay số tiền 10.000.000đồng, với mức lãi suất 5.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/01 năm. T trừ luôn tiền lãi cho 10 ngày vay đầu tiên là 500.000đồng và chuyển cho chị P số tiền 9.500.000đồng bằng cách chuyển khoản từ số tài khoản 108872005816 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 (Ngân hàng V) của T đến số tài khoản 3713071991 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Ngân hàng M) của chị P. Hai bên thỏa thuận thời hạn trả lãi mỗi lần từ 10 ngày đến 30 ngày tùy từng lần, có thể sớm hoặc muộn hơn tùy thuộc vào khả năng tài chính của chị P. Nếu chị P chưa đủ tiền đóng tiền lãi thì T cho nợ trả sau. Từ thời điểm ngày 30/3/2022 đến ngày 26/5/2024, chị P đều đặn trả tiền lãi cho T đối với khoản vay này bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của chị P tại Ngân hàng M và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (Ngân hàng B), số tài khoản 42510002095859 đến tài khoản ngân hàng của T, thời hạn trả lãi mỗi lần từ 10 ngày đến 30 ngày tùy từng lần, tổng số lần trả lãi là 44 lần. Tính đến thời điểm bị phát hiện, ngày 07/6/2024, chị P vẫn đang vay T số tiền gốc 10.000.000đồng. Tính đến ngày 26/5/2024, tổng số tiền lãi chị P phải trả là 35.500.000đồng, trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật Dân sự 3.890.411đồng; số tiền T thu lợi bất chính 31.609.589đồng. Thực tế, T thu 34.700.000đồng, do T có 02 lần cho chị P với tổng số tiền 800.000đồng.
Lần thứ 2: Ngày 04/5/2022, T cho chị P vay số tiền 5.000.000đồng chuyển qua tài khoản, với mức lãi suất 5.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/01 năm. Chị P đóng tiền lãi đều đặn theo kì hạn cho T, thời hạn 10 ngày/01 lần, tổng 04 lần, mỗi lần 250.000đồng. Đến ngày 16/6/2022, chị P chuyển khoản trả 5.000.000đồng tiền gốc, kết thúc lần vay này. Như vậy, đối với khoản vay này, T đã thu của chị P với tổng số tiền lãi 1.000.000đồng, trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật Dân sự là 109.589đồng; số tiền T thu lợi bất chính 890.411đồng.
Lần thứ 3: Ngày 28/6/2022, T cho chị P vay số tiền 5.000.000đồng, với mức lãi suất 5.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/01 năm; thời hạn trả lãi mỗi lần từ 10 ngày đến 23 ngày tùy từng lần, tổng số lần trả lãi là 20 lần. Đến ngày 05/5/2023, chị P đã trả cho T 5.000.000đồng tiền gốc đã vay và tổng tiền lãi chị P phải trả là 7.250.000đồng, trong đó tiền lãi tối đa được quy định tại Bộ luật Dân sự 794.521đồng; số tiền T thu lợi bất chính 6.455.497đồng. Thực tế, T thu 7.000.000đồng, do T cho chị P 250.000đồng.
Như vậy, từ ngày 30/3/2022 đến ngày 07/6/2024, Nguyễn Trung T đã có 03 lần cho Nguyễn Thị Bích P vay tiền với tổng số tiền gốc cho vay là 20.000.000đồng, với mức lãi suất 5.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/01 năm, để thu lợi bất chính. Tổng số tiền lãi mà chị P phải trả là 43.750.000đồng, trong đó số tiền lãi tối đa theo Bộ luật Dân sự 4.794.521đồng và số tiền T thu lợi bất chính 38.955.479đồng. Tuy nhiên, T có 03 lần cho chị P với tổng số tiền 1.050.000đồng. Thực tế, T thu của chị P 42.700.000đồng. Hiện tại, chị P vẫn đang nợ T số tiền gốc 10.000.000đồng của khoản vay ngày 30/3/2022.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã thu thập tài liệu sao kê giao dịch của các tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Trung T và chị Nguyễn Thị Bích P, tiến hành xác minh, ghi lời khai của chị P, đối chiếu với những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Kết quả nội dung thể hiện tại tài liệu sao kê tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Trung T và chị Nguyễn Thị Bích P, lời khai của T và của chị P hoàn toàn phù hợp với nhau.
Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã yêu cầu các ngân hàng sao kê các giao dịch chuyển tiền đi, chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng giữa Nguyễn Trung T và Nguyễn Thị Bích P, đồng thời yêu cầu các ngân hàng cung cấp thông tin những giao dịch tài khoản có dấu hiệu bất thường liên quan đến T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành triệu tập làm việc với những người này để xác minh, làm rõ nội dung các giao dịch, cụ thể:
- - Giao dịch với chị Đinh Thị Thùy D, sinh năm 2003; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra xác định chị D là vợ của T. T và chị D đều khai nhận các giao dịch chuyển tiền giữa T và chị D là tiền để chi tiêu sinh hoạt của vợ chồng, chị D không biết, không tham gia và không liên quan đến việc T cho người khác vay tiền với lãi suất cao.
- - Giao dịch với tài khoản Ngân hàng V1 số 69662222283 của anh Nguyễn Phương N1, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. T khai nhận những giao dịch giữa T và anh N1 do thời gian đã lâu nên T không nhớ cụ thể nội dung những giao dịch này. Đối với nội dung chuyển khoản “CK lai 30 cu”; “CK tien lai”; “ck lai”; “ck lai cho T2”, T khai những nội dung chuyển khoản nêu trên do anh N1 ghi, T không biết lí do tại sao anh N1 chuyển khoản tiền cho T với những nội dung như nêu trên. T không cho anh N1 vay tiền với lãi suất cao. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập anh N1 để làm việc, tuy nhiên anh N1 không có mặt tại địa phương, không xác định được anh N1 ở đâu. Vì vậy, cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập anh N1 để xác minh, làm rõ và chưa có căn cứ xử lý đối với T liên quan đến giao dịch này.
- - Giao dịch với tài khoản Ngân hàng V số 10370519999 của anh Trịnh Đình T3, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn 5, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội. T khai nhận do đã lâu nên T không nhớ người chuyển khoản là ai và cũng không nhớ được nội dung những giao dịch chuyển khoản là gì. Tại bản sao kê tài khoản ngân hàng của T có 01 giao dịch số 1801 ngày 07/02/2023 với nội dung “tien lo”, T khai nhận đây là giao dịch mà T3 trả nợ cho T, T3 bị ngọng “l” và “n” nên viết “tiền nợ” thành “tien lo”, tức là “tiền lợ”. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập anh T3 để làm việc. Tuy nhiên, anh T3 không có mặt tại địa phương, không xác định được anh T3 ở đâu. Vì vậy, cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập anh T3 để xác minh, làm rõ và chưa có căn cứ xử lý đối với T liên quan đến giao dịch này.
- - Giao dịch với tài khoản Ngân hàng V số [...] của anh Hứa Văn C, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Đối với những giao dịch với những nội dung “gui chu tien lai"; "chau gui chu tien lai"; “gui chu tien lo” thể hiện tại Bản sao kê tài khoản ngân hàng của T, T khai nhận do đã lâu nên không nhớ người chuyển khoản là ai và không nhớ nội dung những giao dịch chuyển khoản trên. T khẳng định giữa T và người này không có giao dịch nào liên quan đến việc vi phạm pháp luật. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập anh C để làm việc. Tuy nhiên, anh C không có mặt tại địa phương, không xác định được anh C ở đâu. Vì vậy, cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập anh C để xác minh, làm rõ và chưa có căn cứ xử lý đối với T liên quan đến giao dịch này.
Ngoài những giao dịch nêu trên, cơ quan điều tra đã đấu tranh, yêu cầu Nguyễn Trung T giải trình đối với một số giao dịch có biểu hiện bất thường thể hiện trong sao kê tài khoản ngân hàng của T. T khai chỉ cho P vay tiền với lãi suất cao, toàn bộ những giao dịch khác đều là những giao dịch sinh hoạt, làm ăn hàng ngày của T, không có giao dịch nào liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập những người có giao dịch có dấu hiệu bất thường nêu trên, tuy nhiên những người này đều không có mặt ở địa phương nên không triệu tập để làm việc, lấy lời khai được, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Apple, loại Iphone 12 ProMax, có cài đặt ứng dụng Vietinbank Banking, là tài sản hợp pháp của Nguyễn Trung T, được T sử dụng để chuyển khoản tiền vay, nhận tiền lãi. Quá trình điều tra, T khai nhận đã làm mất chiếc điện thoại này nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Bích P vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 86/CT-VKSTD ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Trung T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 24 tháng đến 30 tháng cải tạo không giam giữ; về hình phạt bổ sung: Áp dụng hình phạt bổ sung để phạt tiền đối với bị cáo từ 50.000.000đồng đến 70.000.000đồng; về xử lý các khoản tiền liên quan đến vụ án, đề nghị Truy thu đối với Nguyễn Trung T số tiền 10.000.000đồng là tiền gốc Nguyễn Trung T đã dùng để cho chị Nguyễn Thị Bích P vay và số tiền 4.794.521đồng là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự 20%/năm mà T đã thu của chị P để sung vào ngân sách Nhà nước; truy thu đối với chị Nguyễn Thị Bích P số tiền 10.000.000đồng để sung vào ngân sách Nhà nước;buộc Nguyễn Trung T phải trả cho chị Nguyễn Thị Bích P số tiền 38.020.548đồng.
Bị cáo Nguyễn Trung T không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Trung T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Trung T tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ chứng cứ khách quan để kết luận: Nguyễn Trung T là đối tượng có nhiều tiền án và đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, không có công ăn việc làm ổn định. Lợi dụng vào sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan Nhà nước và chính quyền địa phương, Nguyễn Trung T đã cho chị Nguyễn Thị Bích P vay tiền với lãi suất cao để thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ ngày 30/3/2022 đến ngày 07/6/2024, Nguyễn Trung T cho chị Nguyễn Thị Bích P vay 03 lần, với tổng số tiền 20.000.000đồng, với mức lãi suất 5000đồng/1.000.000đồng/01 ngày vay, tương ứng với mức lãi suất 182,5%/01 năm, vượt quá 9,125 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tại thời điểm bị phát hiện Nguyễn Trung T có hành vi cho vay lãi nặng nêu trên, T đã 03 lần cho chị P vay, thời gian vay kéo dài từ 30/3/2022 đến ngày 07/6/2024, trong đó 01 lần số tiền thu lợi bất chính trên 30.000.000đồng và 02 lần số tiền thu lợi bất chính dưới 30.000.000đồng nhưng tổng số tiền thu lợi bất chính trên 30.000.000đồng và các hành vi này chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, diễn ra liên tục từ năm 2022 cho đến khi bị phát hiện. Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Nguyễn Trung T nêu trên, số tiền thu lợi bất chính 38.955.479đồng.
Hành vi của Nguyễn Trung T đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000đồng đến dưới 100.000.000đồng ... thì bị phạt tiền từ 50.000.000đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì vậy cần phải xử lý nghiêm.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Bị cáo T là người có nhân thân xấu và đã có 02 tiền án. Ngày 27/4/2011, T thực hiện hành vi Giết người. Tại Bản án số 31/2011/HS-ST ngày 22/8/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Trung T 06 năm tù về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999, tổng hợp với Bản án số 110/2009/HSST ngày 29/9/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Trung T 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản”, buộc Nguyễn Trung T phải chấp hành hình phạt tù chung của các Bản án là 08 năm tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/6/2009 đến ngày 24/8/2009 của Bản án số 110/2009/HSST ngày 29/9/2009 và phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, bản án xác định T “Tái phạm”. Ngày 11/11/2011, T đã nộp xong 200.000đồng tiền án phí; ngày 28/01/2016, chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).
Ngày 15/02/2017 và ngày 16/02/2017, T thực hiện hành vi Cưỡng đoạt tài sản. Tại Bản án số 52/2017/HSST ngày 15/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử Nguyễn Trung T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt T 03 năm 06 tháng tù và phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, bản án xác định T “Tái phạm nguy hiểm”. Ngày 25/8/2017, T đã nộp xong 200.000đồng tiền án phí; ngày 23/5/2020, chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).
Đến thời điểm phạm tội, T chưa được xóa án tích nên lần phạm tội trong khoảng thời gian từ ngày 30/3/2022 đến ngày 07/6/2024 này của T được xác định là “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy cần cân nhắc, xem xét áp dụng hình cải tạo không giam giữ đối với bị cáo theo đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 100.000.000đồng”. Do vậy, cần phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Trung T 40.000.000đồng để sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
- Về khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người bị cải tạo không giam giữ bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung vào ngân sách Nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập nhưng phải ghi rõ trong bản án. Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay bị cáo Nguyễn Trung T không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo là phù hợp.
- Về xử lý các khoản tiền liên quan đến vụ án:
Đối với số tiền gốc 20.000.000đồng mà Nguyễn Trung T cho chị P vay, đến thời điểm hiện tại chị P còn nợ 10.000.000đồng. Đối với số tiền gốc 10.000.000đồng mà chị P đã trả, bị cáo đã sử dụng hết số tiền này và chưa giao nộp lại cho cơ quan điều tra nên cần truy thu của T để sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 4.794.521đồng, là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà T đã thu của chị P, cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 38.020.548đồng, là tiền T thu lợi bất chính cần buộc T phải trả lại cho chị P.
Đối với khoản tiền 10.000.000đồng, chị Nguyễn Thị Bích P vay của Nguyễn Trung T từ ngày 30/3/2022, chị P hiện tại vẫn chưa trả cho T cần truy thu số tiền trên của chị P để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 201; Điều 36; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Trung T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Trung T có thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Phạt bị cáo Nguyễn Trung T 40.000.000đồng (bốn mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Không khấu trừ thu nhập đối với Nguyễn Trung T.
- Về xử lý các khoản tiền liên quan đến vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Truy thu đối với Nguyễn Trung T số tiền 10.000.000đồng là tiền gốc Nguyễn Trung T đã dùng để cho chị Nguyễn Thị Bích P vay và số tiền 4.794.521đồng là khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự 20%/năm mà T đã thu của chị P để sung vào ngân sách Nhà nước. Tổng cộng số tiền truy thu của Nguyễn Trung T để sung vào ngân sách Nhà nước là 14.794.521đồng, làm tròn là 14.794.000đồng (mười bốn triệu bảy trăm chín mươi tư nghìn đồng).
Truy thu đối với chị Nguyễn Thị Bích P số tiền 10.000.000đồng (mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc Nguyễn Trung T phải trả cho chị Nguyễn Thị Bích P số tiền 38.020.548đồng, làm tròn số là 38.020.000đồng (ba mươi tám triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền lãi chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Nguyễn Trung T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Thảo |
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung T phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
