Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày 30-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Phạm Thị Liễu.

- Ông Lê Đình Khôi.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Sơn Đ (Tên gọi khác: Tây) - sinh năm: 1980, tại Bến Tre.

Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lảm rẫy; trình độ học vấn: biết đọc, biết ký tên; dân tộc: kinh; giới tính: nam: tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S - sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị P - sinh năm 1953; vợ: Phạm Thị T – sinh năm 1981; con: 02, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo được khởi tố tại ngoại và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Minh H - sinh năm 1972 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị N – sinh năm 1978; cư trú: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
  2. Bà Phạm Thị T – sinh năm 1981; cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 29/9/2023, Trần Sơn Đ làm hợp đồng cho ông Nguyễn Minh H thuê vườn của mình tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, để canh tác cây sầu riêng, thỏa thuận thời gian thuê là 05 năm, giá trị hợp đồng 245.000.000 đồng, thanh toán làm 02 lần, ông H đã đưa đủ cho Đ số tiền 145.000.000 đồng để nhận canh tác vườn sầu riêng.

Do có mâu thuẫn từ việc Trần Sơn Đ tự ý chặt mấy nhánh cây sầu riêng khi làm mái vòm nhà nên giữa Đ và ông H xảy ra cự cãi dẫn đến mâu thuẫn. Khoảng 22 giờ ngày 09/04/2024, lợi dụng lúc ông H không có mặt tại vườn sầu riêng, Đ dùng 01 chai thuốc cỏ nhãn hiệu KHAI HOANG Q7 pha vào bình xịt bằng nhựa (loại bình xịt tóc) để xịt vào phần cuống của 235 trái sầu riêng trên 14 cây sầu riêng của ông Nguyễn Minh H thuê của Trần Sơn Đ. Hậu quả làm rụng (chết) 226 trái rầu riêng thái và 09 trái sầu riêng Ri 6 loại sầu riêng non khoảng hai tháng tuổi.

Sự việc sau đó được ông Nguyễn Minh H phát hiện và trình báo cơ quan công an. Tại cơ quan điều tra, Trần Sơn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 vỏ chai thuốc trừ cỏ nhãn hiệu KHAI HOANG Q7, dung tích 900ml, chai màu trắng, nắp màu vàng, tình trạng đã súc rửa qua nước, bên trong không chứa chất lỏng.

Tài sản thiệt hại, Tại Kết luận định giá về tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 04/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định: 11 cây sầu riêng thái và 03 cây sầu riêng Ri 6 bị rụng tổng cộng 235 trái non, kích thước trung bình khoảng 05x10cm do bị phun thuốc diệt cỏ, có giá trị 5.365.000 đồng.

Cáo trạng số 90/CT-VKSTP-ĐN ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Trần Sơn Đ về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội và giữ nguyên Quyết định đã truy tố; sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp, cụ thể như sau:

Căn cứ khoản 1, Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và đề nghị xử phạt bị cáo: Trần Sơn Đ từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là từ 16 tháng đến 20 tháng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 vỏ chai thuốc trừ cỏ nhãn hiệu KHAI HOANG Q7, dung tích 900ml, chai màu trắng, nắp màu vàng, tình trạng đã súc rửa qua nước, bên trong không chứa chất lỏng.

Về trách nhiệm dân sự đã được xử lý xong và không ai thắc mắc khiếu nại gì nên không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với bị cáo và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 22 giờ ngày 09/04/2024 tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, do có mâu thuẫn trước đó với ông Nguyễn Minh H nên Trần Sơn Đ có hành vi dùng 01 chai thuốc cỏ nhãn hiệu KHAI HOANG Q7 pha vào bình xịt bằng nhựa xịt vào phần cuống của 235 trái sầu riêng non của ông Nguyễn Minh H làm rụng 235 trái sầu riêng. Tổng giá trị thiệt hại 5.365.000 đồng.
  2. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 90/CT-VKSTP-ĐN ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Trần Sơn Đ về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

  3. Như vậy, hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, mà còn coi thường pháp luật. Mặt khác bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực nhận thức về hậu quả của hành vi sai trái do mình gây ra nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải đưa ra xét xử bị cáo bằng một hình phạt với mức án tương xứng để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
  4. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại. Ngoài ra bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, con còn nhỏ, bị hại có đơn bãi nại, bị cáo chỉ biết đọc biết ký tên nên phần nào hạn chế về nhận thức pháp luật.
  6. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy tính chất mức độ hành vi của bị cáo nằm trong khung hình phạt không quá 03 năm, bên cạnh đó bị cáo có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Vì vậy, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 và theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
  7. Về xử lý vật chứng: 01 vỏ chai thuốc trừ cỏ nhãn hiệu KHAI HOANG Q7, dung tích 900ml, chai màu trắng, nắp màu vàng, tình trạng đã súc rửa qua nước, bên trong không chứa chất lỏng là chất thải rắn độc hại nên tịch thu tiêu hủy.
  8. Về trách nhiệm dân sự: các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, ông Nguyễn Minh H vắng mặt tại phiên tòa và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên không xem xét. Số tiền bỏ ra bồi thường cho bị hại là tài sản chung của vợ chồng nên bà Phạm Thị T không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền chung đã bỏ ra bồi thường, nên không xét.
  9. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  10. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với bị cáo, hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác.
  11. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Sơn Đ phạm tội “Hủy hoại tài sản”;

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Xử phạt bị cáo Trần Sơn Đ 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Sơn Đ về cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ chai thuốc trừ cỏ nhãn hiệu KHAI HOANG Q7, dung tích 900ml, chai màu trắng, nắp màu vàng, tình trạng đã súc rửa qua nước, bên trong không chứa chất lỏng (Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để đảm bảo cho việc thi hành án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/7/2024).

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo, bà Phạm Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại; bà Trần Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân phú;
  • - Chi cục THA dân sự Tân Phú;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hủy hoại tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger