|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 91/2024/HS-ST Ngày 28 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sương và ông Phạm Văn Tiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Quang Đô – Thư ký TAND thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại hội trường Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố K, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum mở phiên tòa lưu động xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Thanh B, sinh ngày 08 tháng 01 năm 1993 tại tỉnh Kon Tum; nơi cư trú: Số C N, tổ A, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Không; học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn D, sinh năm 1953 và bà Trần Thị N, sinh năm 1963; tiền án: Không, tiền sự: Không.
Nhân thân xấu:
Ngày 12/11/2013, bị Công an thành phố K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt 750.000 đồng.
Ngày 02/3/2015, bị Công an thành phố K xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự, mức phạt 750.000 đồng.
Ngày 27/5/2019, bị Công an phường Q, thành phố K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt 750.000 đồng.
Ngày 05/3/2021, bị TAND thành phố Kon Tum tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Văn D, sinh năm 1955 (có mặt).
2. Bà Trần Thị N, sinh năm 1963 (có mặt).
Cùng trú tại: Số C N, tổ A, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996
Trú tại: Tổ G, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 27/01/2024, Võ Thanh B điều khiển xe mô tô BKS 82B1-214.63 đến Cửa hàng xăng dầu trước bến xe tỉnh Kon Tum, (thuộc phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum) để đổ xăng thì gặp B1 (bạn quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân lai lịch) đang đứng tại ngã ba đường T và đường P, phường Q, thành phố K nên Võ Thanh B đi đến hỏi xin một ít ma túy để sử dụng thì B1 đồng ý. Bo lấy 01 bì ni lông có chứa ma túy đá trong túi quần bên phải đưa cho Võ Thanh B rồi rời đi. Võ Thanh B cầm và cất gói ma túy trong túi quần trước bên phải rồi điều khiển xe mô tô biển số 82 B1 214.63 đi về nhà cất giấu ở dưới nền phòng ngủ của mình để sử dụng.
Đến khoảng 04 giờ ngày 29/01/2024, Võ Thanh B điều khiển xe mô tô BKS 82B1-214.63 đi ngang qua khu vực bến xe tỉnh Kon Tum (thuộc phường Q, thành phố K) thì thấy một người đeo khẩu trang màu đen có hình hoa sen màu bạc đang đứng ở ven đường giống một người Bình quen và biết có bán ma túy tên M nên đi đến hỏi “Minh hả?” thì người này gật đầu. Võ Thanh B đưa cho M số tiền 500.000 đồng để mua ma túy loại Heroine. M nhận tiền và chỉ dẫn Võ Thanh B đi đến ngã tư P + T (phường L, thành phố K) để lấy ma túy dưới chân cột điện. Võ Thanh B điều khiển xe mô tô đến địa điểm mà M chỉ thì thấy có 01 bì ni lông, bên trong, có 01 gói giấy gói kín. Biết là ma túy của M chỉ nên B cầm lấy, giấu trong lòng bàn tay trái của mình rồi điều khiển xe đi về. Khi về đến nhà, B lấy gói ma túy loại Heroine vừa mua của M ra, đổ một ít vào bơm kim tiêm để sử dụng, số Heroine còn lại B chia làm 02 phần, 01 phần vẫn để trong gói giấy gói lại, 01 phần bỏ vào bì ni lông và cất ở nền nhà phòng ngủ. Đồng thời, Võ Thanh B cũng lấy gói ma túy đá đã xin của B1 trước đó cho một ít vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng. Số ma túy đá còn lại và ma túy loại Heroine trong gói giấy thì B bỏ vào trong bì ni lông chứa ma túy đá để trên nền phòng ngủ để sử dụng sau.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, B lấy bơm kim tiêm đã sử dụng và bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá bên trong còn một ít ma túy đá chưa sử dụng hết bỏ vào túi áo khoác bên trái, lấy bì ni lông (bên trong, có chứa ma túy đá) và gói ma túy loại Heroine bỏ vào khẩu trang đeo trên mặt rồi điều khiển xe mô tô đi chơi. Trên đường đi, B đã vứt bơm kim tiêm đã qua sử dụng ở ven đường (không xác định được địa điểm). Khi B tiếp tục đi đến đoạn đường P, thành phố K thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính phát hiện 01 bì ni lông bên trong có chứa ma túy đá, 01 gói ma túy loại Heroine trong khẩu trang đeo trên mặt và 01 bộ dụng cụ
sử dụng ma túy đá bên trong nỏ thủy tinh có bám dính ma túy đá bên trong túi áo khoác bên trái mà B đang mặc trên người.
Cùng ngày, Công an thành phố K tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Thanh B tại số C N, tổ D, phường Q, thành phố K. Quá trình khám xét, thu giữ trong phòng ngủ của B: 01 bì ni lông dán kín, có viền màu đỏ, bên trong có chứa ma túy loại Heroine; 01 ống bơm kim tiêm chưa qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số: 38/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K đã kết luận:
- - Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1.1) được niêm phong trong phong bì đánh số “01” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,288 gam.
- - Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1.2) được niêm phong trong phong bì đánh số “01” gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất, có khối lượng 0,100 gam.
- - Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng đục (ký hiệu M2) được niêm phong trong phong bì đánh số “02” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,209 gam.
- - Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M3) được niêm phong trong phong bì đánh số “03” gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất, có khối lượng 0,389 gam.
Tại bản cáo trạng số: 72/CT-VKSTPKT ngày 13 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum đã truy tố bị cáo Võ Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hìnhXử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng vào Điều 47 của Bộ luật hình2015 sửa đổi, bổ sung 2017; căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
- - Tịch thu, tiêu hủy 0,481 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,473 gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định; 01 nắp nhựa được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 khẩu trang màu đen, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Võ Thanh B: 01 điện thoại dạng cảm ứng, mặt sau có chữ “OPPO”, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong và 01 điện thoại di
động dạng phím bấm, mặt trước và sau có chữ “NOKIA” đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong.
Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Võ Thanh B phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có việc làm ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Hội đồng xét xử thấy rằng các hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum trong quá trình điều tra, truy tố đều đảm bảo thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không có người tham gia tố tụng nào khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thanh B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước đây tại cơ quan điều tra, với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để khẳng định:
Vào ngày 27/01/2024, bị cáo Võ Thanh B đã có hành vi xin 0,497 gam ma túy đá, loại Methamphetamine và cất giấu tại nhà để sử dụng. Ngày 29/01/2024, bị cáo B lại có hành vi mua 0,489 gam ma túy, loại Heroine (số ma túy tại thời điểm bị phát hiện) đem về tiếp tục cất giấu tại nhà và trên người để sử dụng. Tổng số ma túy loại Methamphetamine và H mà Võ Thanh B đã tàng trữ để sử dụng vào các ngày 27/01/2024 và ngày 29/01/2024 là 0,986 gam. Chỉ trong vài ngày, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần đều đủ cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo Võ Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình2015 sửa đổi, bổ sung 2017 với tình tiết
định khung tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, có tác hại xấu đến sức khỏe thể chất và tâm thần người sử dụng, từ đó, dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác nên được Nhà nước kiểm soát, quản lý chặt chẽ và sử dụng độc quyền. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thể chất, tinh thần cho bản thân nói riêng và đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nói chung, là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hìnhhành sự đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tại phiên tòa, gia đình bị cáo cung cấp bổ sung chứng cứ thể hiện ông nội bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạnh nhất. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hìnhsự hiện hành.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu. Trước lần phạm tội này đã có 03 lần bị xử phạt hành chính (trong đó, có 02 lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy), 01 lần bị xét xử hình sự. Bị cáo đã sử dụng ma túy từ năm 2013 nhưng không có khả năng tự cai nghiện. Mặc dù bị cáo đã được xóa án tích và không bị coi là có tiền sự nhưng đây cũng là một căn cứ để Hội đồng xét xử đánh giá ý thức pháp luật và khả năng cải tạo của bị cáo khi lượng hình.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có công việc không ổn định và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hìnhhiện hành đối với bị cáo.
[7] Trong vụ án, còn có đối tượng tên “M” (theo lời khai của bị cáo B thì đối tượng tên “M” là người đã bán ma túy cho bị cáo) và đối tượng tên “Bo” (theo lời khai của bị cáo B thì người đã cho bị cáo ma túy đá vào ngày 27/01/2024): Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K tách ra, tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau là phù hợp.
Đối với ông Võ Văn D và bà Trần Thị N - là cha mẹ của bị cáo Võ Thanh B, đồng thời là chủ sở hữu căn nhà số C N, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum, nơi bị can Võ Thanh B tàng trữ trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma
túy vào các ngày 27/01/2024 và 29/01/2024: Ông D và bà N đều không biết việc Võ Thanh tàng trữ trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông D và bà N là có căn cứ.
Việc bị cáo Võ Thanh B sử dụng xe mô tô biển số 82B1-214.63 thuộc sở hữu của bà N để đi xin ma túy và mua ma túy vào các ngày 27/01/2024 và 29/01/2024, bà N không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà N là đúng pháp luật.
[8] Về vật chứng vụ án:
Đối với 0,481 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,473 gam ma túy loại Heroine được đựng trong 04 túi ni lông và 01 bì ni lông trong suốt, 01 gói giấy, 01 ống thủy tinh được uốn cong một đầu, có bầu hở, 01 bi ni lông viền màu đỏ, 03 phong bì đựng mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 38/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH KON TUM” và các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán (Số ma túy còn lại sau giám định). Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 nắp nhựa được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 khẩu trang màu đen, đã qua sử dụng. Đây là đồ dùng cá nhân và công cụ sử dụng vào việc phạm tội của bị cáo B, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại dạng cảm ứng, mặt sau có chữ “OPPO”, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các dấu hình tròn màu đỏ của Công an phường Q, thành phố K, ghi chữ “ĐT1” và 01 điện thoại di động dạng phím bấm, mặt trước và sau có chữ “NOKIA” đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các dấu hình tròn màu đỏ của Công an phường Q, thành phố K, ghi chữ “ĐT 2”. Đây là tài sản của bị cáo B không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô BKS 82B1 – 214.63, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong: Cơ quan CSĐT- Công an thành phố K đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp bà Trần Thị N là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không giải quyết lại.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình2015 sửa đổi, bổ sung 2017;
Xử phạt: Bị cáo Võ Thanh B 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (29/01/2024).
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng vào Điều 47 của Bộ luật hình2015 sửa đổi, bổ sung 2017; căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
- - Tịch thu tiêu hủy 0,481 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,473 gam ma túy loại Heroine được đựng trong 04 túi ni lông và 01 bì ni lông trong suốt, 01 gói giấy, 01 ống thủy tinh được uốn cong một đầu, có bầu hở, 01 bì ni lông viền màu đỏ, 03 phong bì đựng mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 38/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH KON TUM” và các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán (Số ma túy còn lại sau giám định); 01 nắp nhựa được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 khẩu trang màu đen, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Võ Thanh B: 01 điện thoại dạng cảm ứng, mặt sau có chữ “OPPO”, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các dấu hình tròn màu đỏ của Công an phường Q, thành phố K, ghi chữ “ĐT1” và 01 điện thoại di động dạng phím bấm, mặt trước và sau có chữ “NOKIA” đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong, được niêm phong trong phong bì dán kín, có chữ ký của những người liên quan và các dấu hình tròn màu đỏ của Công an phường Q, thành phố K, ghi chữ “ĐT 2”.
(Theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum và Cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum).
4. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Võ Thanh B phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/6/2024), bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Phương Loan |
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử lưu động
