Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-ST.

Ngày: 17-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Trọng Di

+ Bà Nguyễn Thị Tây Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa:

Ông Trần Hải Điền – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Văn K; tên gọi khác: Năm, Năm S; Giới tính: Nam; sinh ngày: 05/8/1996, tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi đăng ký thường trú: khu phố H, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở hiện nay: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Làm biển; Cha: Võ Văn D, sinh năm 1969 (đã chết) và mẹ: Huỳnh Thị G, sinh năm 1972; A, chị, em ruột: 03 người, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2004; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1994 (chưa đăng ký kết hôn); Con: 01 người, sinh năm 2018.

Tiền án: 01 tiền án. Tại Bản án số 182/2022/HSST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt Võ Văn K 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2024 (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt ngày 12/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn K là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 12-6-2024, K đi đến khu vực gần chùa T1 thuộc xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận gặp 01 thanh niên tên Minh C (không rõ lai lịch) mua 01 gói Heroine với giá 850.000 đồng rồi cất giấu trong túi quần phía trước bên phải để sử dụng. Sau đó, K mang gói ma túy về nhà tại khu phố M, thị trấn P, huyện T và cất giấu dưới nệm trong phòng ngủ của K. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, K đi vào phòng ngủ lấy gói ma túy đặt lên trên nệm chuẩn bị sử dụng thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng H1 phối hợp với Công an thị trấn P, quả tang về huyện T kiểm tra hành chính chỗ ở của K, phát hiện bắt hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tang vật thu giữ bao gồm: Thu giữ trên nệm trong phòng ngủ của K 01 gói nylon không màu có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước 04cm x 07cm, bên trong gói nylon chứa chất rắn màu trắng, K khai nhận là Heroine của K cất giấu để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định về ma túy số 667/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 1,3835 gam là Heroine.

Lời khai của Võ Văn K phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật chứng và kết quả giám định chất ma túy có đủ cơ sở xác định: Võ Văn K đang cất giấu 01 gói nylon chứa Heroine có khối 1,3835 gam để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Về tang vật chứng: Đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước 04cm x 07cm cùng 1,2660 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 667, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B.

Tại Bản Cáo trạng số 92/CT-VKSTP-HS, ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Võ Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

+ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h, khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Võ Văn K từ 01 (Một) năm 6 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước 04cm x 07cm cùng 1,2660 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 667, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B.

Đối với người thanh niên tên Minh C đã bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Bị cáo Võ Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan. Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn K không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và biên bản phạm tội quả tang, đã làm rõ: Võ Văn K là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 12-6-2024, K đi đến khu vực gần chùa T1 thuộc xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận gặp 01 thanh niên tên Minh C (không rõ lai lịch) mua 01 gói Heroine với giá 850.000 đồng, cất giấu dưới nệm trong phòng ngủ của K tại nhà bị cáo khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, khi K chuẩn bị sử dụng thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng H1 phối hợp với Công an thị trấn P, kiểm tra hành chính chỗ ở của K, bắt quả tang K có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại đây, thu giữ trên nệm trong phòng ngủ của K 01 gói nylon không màu có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước 04cm x 07cm, bên trong gói nylon chứa chất rắn màu trắng, K khai nhận là Heroine của K cất giấu để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định về ma túy số 667/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 1,3835 gam là Heroine.

Hành vi cất giấu ma túy loại Heroine có khối lượng là 1,3835 gam của bị cáo Võ Văn K nhằm mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Võ Văn K là người đã trưởng thành nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi lén lút cất giấu ma túy để sử dụng là trái pháp luật, xâm phạm đến nguyên tắc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy nhưng do bị nghiện nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Heroine là chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh và sức khỏe của người sử dụng nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của mình mà bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, không những tiếp tay cho các tệ nạn xã hội mà còn làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho gia đình và cộng đồng dân cư.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, lần này tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân không tốt và bị cáo có tiền án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[5] Xử lý vật chứng: Toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước 04cm x 07cm cùng 1,2660 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 667, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B. Xét thấy đây là vật không có giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là phù hợp.

[6] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người thanh niên tên Minh C đã bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Bị cáo Võ Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h, khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn K 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 12-6-2024.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 gói nylon không màu có nhíp kéo một đầu màu đỏ, kích thước 04cm x 07cm cùng 1,2660 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 667, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B. (Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 30-8-2024).

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Buộc bị cáo Võ Văn K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17-9-2024).

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Tuy Phong;
  • -CA huyện Tuy Phong;
  • -THADS huyện Tuy Phong;
  • -Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • -Bị cáo;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kiêm Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h, khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Võ Văn K 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 12-6-2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger