|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 91/2024/HS-ST Ngày: 17-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Vĩnh Chuyển |
| Thẩm phán: | Ông Trần Minh Long |
| Các Hội thẩm nhân dân: |
Ông Nguyễn Minh Ông Nguyễn Phi Hùng Bà Hà Thị Minh Phương |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2024/TLST-HS ngày 19/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:96/2024/QĐXX-ST ngày 01/8/2024, đối với bị cáo:
Lê Tấn D (Dũng V), sinh ngày 02 tháng 12 năm 1989 tại TP Đà Nẵng;
Nơi cư trú: Tổ B, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T và bà Phạm Thị Ô (đều còn sống), có vợ Phạm Thị Phương T1, chưa có con.
Tiền án : Không;
Tiền sự : Ngày 05/5/2019, Lê Tấn D bị Công an quận C, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) về hành vi “Gây rối trật tự công cộng và sử dụng vũ khí thô sơ”. Đến nay, D chưa chấp hành quyết định xử phạt này.
Về nhân thân: Ngày 29/07/2010, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 24 (hai bốn) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 138 và Điều 250 Bộ luật Hình sự 1999 (Bản án số 79/2010/HS-ST).
- Ngày 06/5/2014, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 15 (mười lăm) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999 (Bản án số: 25/2014/HS-ST)
- Ngày 22/5/2017, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Điều 143 Bộ luật Hình sự 1999 (Bản án số 52/2017/HS-ST).
Lê Tấn D đã chấp hành xong phần án phí và các quyết định khác của 03 bản án này. Đến ngày 22/02/2018, Lê Tấn D chấp hành xong hình phạt tù, thời hạn xóa án tích theo Bộ luật Hình sự 2015 là 02 (hai) năm đến ngày 22/02/2020 xong thời gian xóa án tích.
Bị bắt ngày 23/3/2024. Bị cáo hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo Lê Tấn D: Luật sư Nguyễn Thị Thu S - Đoàn Luật sư thành phố Đ theo yêu cầu của Tòa án.Có mặt.
* Người bị hại:
- - Ông Trần Đăng N (Đã chết).
- - Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần S1, sinh năm 1958 và bà Vi Thị L, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần S1 và bà Vi Thị L: Ông Trần Đăng N1, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Số nhà C, ngõ G, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Đặng Anh T2. Hiện đang chấp hành án. Vắng mặt.
- - Ông Phạm Nhật T3 sinh năm 1997. Nơi cư trú: 6 P, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thảo U, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Số C đường H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- - Bà Phan Huyền N2, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tại liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 19/7/2020, Đặng Anh T2 cùng với Phạm Nhật Trường Nguyễn Thảo U1, Phan Huyền N2 và Trần Xuân S2 đến quán Phố Đ tại Lô B đường H, phường H, quận L để ăn uống, ngồi được một lúc thì S2 về trước.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, U1 và N2 đứng dậy đi vào nhà vệ sinh. Cùng lúc này có anh Đoàn Đình T4 và anh Trần Dăng N3 ghé vào quán Phố Đ để uống bia. Anh T4 ngồi vào bàn chờ, còn anh N3 đi vào nhà vệ sinh. Khi vào nhà vệ sinh, anh N3 có đứng lên bồn cầu nhìn lén N2 đang đi vệ sinh thì U1 phát hiện, sau đó Ul có kể lại sự việc cho những người trong bàn. Nghe vậy, T2 bực tức nên nói U1, N2, T3 đi ra trước, còn T2 ở lại tính tiền, lúc này có Lê Tấn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu trắng (không rõ biển kiểm soát) đi qua quán Phố Đ thấy T2 ở trong quán nên ghé vào. T2 bực tức về việc anh N3 nhìn trộm N2, nên có nói với D "Có chuyện rồi anh nghe", nói xong T2 cầm ly và chai bia ném anh N3 nhưng không trúng, T2 tiến lại gần anh N3, thì anh N3 bỏ chạy ra khỏi quán Phố Đ về phía đường L. Đặng Anh T2 điều khiển xe ô tô hiệu Mazda, màu trắng, biển số 43A-S1837 đuổi theo một đoạn nhưng không thấy anh N3 đâu, anh T4 cũng chạy theo đến gặp T2 và D để xin lỗi. Sau đó, T2 và D đi về quán cà phê R của D tại A N, phường H, quận L, T2 lấy 01(một) cây dao tự chế (dài khoảng 120cm, lưỡi dao bằng kim loại màu xám, sắc nhọn dài khoảng 40cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 80cm), D lấy cây rựa (cán bằng gỗ dài khoảng 50cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 40cm) tại quán cà phê. T2 chở D bằng xe mô tô hiệu Honda SH màu trắng đi tìm anh N3 để đánh.
Khi đến ngã tư đường L giao với đường D thuộc phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng lúc này khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, thấy anh T4 và anh N3 đang ngồi hút thuốc trên vỉa hè, D và T2 nhảy xuống xe, D cầm cây dao đuổi đánh anh T4 nhưng không đánh được, còn T2 cầm cây dao đuổi đánh anh N3, anh N3 chạy một đoạn bị vấp ngã sấp mặt dưới đường, T2 chạy đến thì anh N3 đứng dậy quay mặt đối diện với T2 và đi lùi về phía vỉa hè bên đường. Trong lúc anh N3 đi lùi chân phải co lên, hai tay che đầu, thì T2 cầm dao tự chế bằng hai tay, khom người chém 01(một) nhát theo phương ngang (hơi chếch lên phía trên) từ phải sang trái, lưỡi dao trúng vào vùng phía trong đùi phải anh N3, anh N3 liền lấy hai tay ôm đùi phải, rồi nằm úp mặt xuống đất, chân trái duỗi thẳng, T2 tiếp tục cầm dao bằng hai tay chém tiếp 01(một) nhát theo phương thẳng đứng hướng từ trên xuống dưới, lưỡi dao trúng vào bắp chân trái anh N3, sau đó T2 quay lại xe Honda SH rồi cùng với D bỏ đi, lúc này anh T4 mới chạy lại chỗ anh N3, thấy anh N3 bị thương tích nặng, chảy máu nhiều nên gọi xe cấp cứu, nhưng sau đó anh N3 đã chết tại hiện trường
Tang vật tạm giữ và xử lý:
- - Thu giữ tại quán P: 03 (ba) ly thủy tinh màu trắng bị vỡ không hoàn toàn; một số mảnh vỡ thủy tinh màu trắng, màu nâu; 01 (một) thân chai bia Tiger thủy tinh màu nâu; 02 (hai) cổ chai bia Tiger thủy tinh màu nâu; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen.
- - Thu giữ tại via hè phía đông đối diện với ngôi nhà số 184 Dũng Sĩ Thanh Khê: Mẫu máu thu tại vị trí số 01 (01 cục bông y tê thấm chất màu nâu đỏ); Mẫu máu thu tại vị trí số 02 (Q1 lá khô); Mẫu máu thu tại vị trí số 03 (01 tấm nhựa màu đen); 01 (một) quần ngắn màu đen có in dòng chữ "KASTLE"; 01 (một) áo vải màu xanh đen; O1 (một) áo vải màu trắng; 01 (một) đôi dép bằng nhựa màu đỏ; Mẫu máu của anh Trần Đăng N.
- - Thu giữ tại quán C: 02 (hai) con dao tự chế, lưỡi dao bằng kim loại màu xám dài khoảng 20 cm, mũi dao nhọn, cán dao bằng kim loại màu xám dài khoảng 11 cm; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, trong cổ áo có dòng chữ "RAJPAI"; 01 (một) quần lửng bằng vải màu xám trên túi phía sau bên phải có dòng chữ "VERSACE" thu tại quán C; 10 (mười) cây dao tự chế, lưỡi dao bằng kim loại màu xám dài khoảng 40 cm, mũi dao sắc nhọn, cán dao bằng gỗ dài khoảng 80 cm thu tại đường luồng phía sau quán C (BL: 87,88).
Toàn bộ tang vật nêu trên đã được tịch thu tiêu hủy theo Bản án số 16/2021/HS-ST ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử đối với Đặng Anh T2.
Tại bản kết luận giám định: Số 68 ngày 04/9/2020 của Phòng K Công an thành phố Đ, kết luận :
- - Nguyên nhân dẫn đến tử vong của Trần Đăng N là do vết thương vùng đùi bên phải gây đứt động mạch, tĩnh mạch đùi làm mất máu, suy hô hấp, trụy tim
- - Cơ chế hình thành thương tích tại đùi bên phải trên thi thể Trần Đăng N: Vết thương này do một vật cứng có bản mỏng, lưỡi sắc, dài hơn 20cm, có lực tác động theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải tạo thành.
Tại Bản kết luận giám định: Số 1081 ngày 30/10/2020 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:
- - Mẫu máu thu ở vị trí số 1, 2 và 3 tại hiện trường là máu của Trần Đăng N
- - Trên hai con dao tự chế dài 117,5cm và 118cm (trong 10 con dao tự chế dài khoảng 120cm thu tại quán C) có ADN của Trần Đăng N. Trên các con dao tự chế còn lại không có AND người.
- - Trên quần có ADN của Đặng Anh T2, không có AND của Trần Đăng N, Trên áo có ADN của một người nam giới, do chất lượng dấu vết kém nên không truy nguyên được đối tượng.
- - 02 (hai) con dao tự chế có lưỡi và cán dao băng kim loại không phải là vũ khí: 10 (mười) con dao tự chế có lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng gỗ thuộc vũ khí thô sơ.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 21/6/2024, gia đình bị can Lê Tấn D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Trần Đăng N số tiền 50.000.000 đồng. Anh Trần Đăng N1 là anh ruột của N đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can Lê Tấn D.
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số:122/CT-VKS-P2 ngày 17/7/2024 của VKS nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Lê Tấn D về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lê Tấn D khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 19/7/2020 bị cáo có cùng tham gia với Đặng Anh T2 sử dụng xe Hon da SH (do T2 điều khiển) cầm theo hung khí là 01(một) cây dao tự chế (do T2 sử dụng) và 01(một) cây rựa (do bị cáo sử dụng) truy tìm anh N để đánh. Khi đến ngã tư đường L giao với đường D, quận T, thành phố Đà Nẵng, khi phát hiện thấy anh N, anh T4 đang ngồi trên vỉa hè, tại đây bị cáo và T2 xuống xe cầm hung khí đuổi đánh anh T4 và anh N (Trong đó bị cáo đuổi đánh anh D, nhưng không đánh được) còn T2 cầm dao tự chế đuổi đánh và chém anh N (chết tại chỗ), sau khi vụ việc xảy ra (bị cáo sợ nên bỏ trốn đến ngày 23/3/2024) bị cáo đến cơ quan Công an thành phố Đ đầu thú. Vì vậy, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo xin HĐXX xem xét vai trò đồng phạm của bị cáo, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có ít thời gian học tập, cải tạo tốt sớm được đoàn tụ với gia đình.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Tấn D về tội “Giết người” tại bản Cáo trạng số:122/CT-VKS-P2 ngày 17/7/2024. Trên cơ sở phân tích đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân thân bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử :
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đức D1 phạm tội “Giết người”
Về hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) xử phạt bị cáo Lê Tấn D từ 13 (mười ba) năm đến 14 (mười bốn) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Tấn D, tác động gia đình bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), đại diện của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên nên không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2021/HS-ST ngày 11/3/2021 nên không đề cập đến.
Luật sư Nguyễn Thị Thu S người bào chữa cho bị cáo có quan điểm luận cứ bào chữa như sau: Trong vụ án này người gây ra cái chết cho (bị hại) anh Trần Đăng N là do Đặng Anh T2 sử dụng hung khí là 01 (một) con dao tự chế chém anh N 02 (hai) nhát trúng vào vùng phía trong đùi phải và bắp chân trái anh N chết tại chỗ. Mặc dù, bị cáo D không trực tiếp tham gia gây thương tích cho anh N, nhưng đã giúp sức cho Đặng Anh T2 về mặt tinh thần, cùng đi theo T2, đuổi đánh anh T4, tạo điều kiện để cho T2 sử dụng hung khí chém anh N chết. Do đó, luật sư thống nhất về tội danh, điểm, khoản, điều luật truy tố, cũng như quan điểm luận tội của Kiểm sát viên đại diện VKS nhân dân thành phố Đ tại phiên tòa, nên không có tranh luận về tội danh. Tuy nhiên, luật sư cho rằng về mức hình phạt mà đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là nghiêm khắc, chưa xem xét đánh giá một cách khách quan toàn diện của vụ án bởi lẻ: Bị cáo không phải là người trực tiếp tham gia gây thương tích cho anh N, mà chỉ tham với vai trò đồng phạm giúp sức về mặt tinh thần (cùng đi theo T2 đuổi đánh anh D), tạo điều kiện để cho T2 sử dụng hung khí đuổi chém anh N gây ra hậu quả anh N tử vong, nên bị cáo cùng chịu trách nhiêm hình sự chung cùng với T2, tuy nhiên chỉ là vai trò thứ yếu, mặc khác trong quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt hình phạt cho bị cáo. Với lập trên, luật sư đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và khoản 1 Điều 54 BLHS quyết định cho bị cáo một mức hình phạt phù hợp dưới mức khởi điểm của khung hình phạt truy tố để bị cáo có ít thời gian, học tập, cải tạo tốt, sớm được đoàn tụ với gia đình làm người công dân tốt, là nhằm thể hiện tính nhân đạo pháp luật XHCN.
Người đại diện theo ủy quyền hợp pháp của người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp người bị hại có đơn xin xét vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy việc vắng mặt của đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên (thuộc thành phố Đà Nẵng) trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, luận cứ bào chữa của Luật sư người bào chữa cho bị cáo, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
[2.1] Khoảng 23 giờ 30 ngày 19/7/2020 Đặng Anh T2 dùng xe Honda hiệu SH chở theo Lê Đức D1 (ngồi sau) cầm theo hung khí gồm 01 (một) cây đao tự chế dài khoảng 120cm (lưỡi dao dài 40cm, cán dao dài 80cm) và 01(một) cây rựa truy tìm anh N để đánh, khi đi đến ngã tư đường L giao nhau với đường D, thuộc phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, tại đây bị cáo và Đặng Anh T2 phát hiện anh T4 và N đang ngồi hút thuốc trên vỉa hè, lập tức T2 cùng bị cáo xuống xe cầm theo hung khí (Trong đó, bị cáo cầm 01 (một) cái rựa đuổi đánh anh T4 nhưng không đánh được), còn Đặng Anh T2 cầm hung khí là 01(một) cây đao tự chế đuổi đánh chém anh N 02 (hai) nhát (Trong đó 01(một) nhát trúng vào phía trong của đùi chân phải và 01(một) nhát trúng vào bắp chân trái), gây ra hậu quả anh N tử vong tại chỗ do đứt động mạch, tĩnh mạch đùi, gây mất máu suy hô hấp, trụy tim mạch (sau khi cùng với Đặng Anh T2 gây ra cái chết cho anh N, bị cáo bỏ trốn đến ngày 23/3/2024 ra đầu thú tại Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ). Hành vi, trên của Đặng Anh T2 và bị cáo là đủ yếu tố cấu thành tội Giết người với tình tiết định khung, có tính chất côn đồ (điểm n) khoản 1 Điều 123 BLHS.
[2.2] Trong vụ án này, Đặng Anh T2 đã được Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử tại Bản án Hình sư sơ thẩm số: 16/2021/HS-St ngày 11/3/2021 với mức hình phạt 20 (hai mươi) năm tù.(Sau khi xét xử sơ thẩm VKS nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị tăng hình phạt và bị cáo T2 cũng như đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình, tuy nhiên Tòa nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng nghị của VKS nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về tăng hình phạt và kháng cáo của bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của bị hại về việc xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên Bản án sơ thẩm tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 251/2021/HS-PT ngày 15/6/2021) nên HĐXX không đề cập về vai trò của Đặng Anh T2 trong vụ án này.
[2.3] Đối với bị cáo Lê Tấn D, mặc dù không phải là người trực tiếp tham gia gây ra thương tích cho anh N (bị hại), tuy nhiên, bị cáo có cùng đi theo T2 và sử dụng hung khí đuổi đánh anh T4, giúp sức cho T2 về mặt tinh thần, nhằm tạo điều kiện để cho T2 thực hiện hành vi dùng 01(một) cây đao tự chế chém anh N 02 (hai) nhất dẫn đến tử vong.Vì vậy, bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự chung trong vụ án do hành vi của T2 gây ra hậu quả cái chết cho anh N với vai trò đồng phạm giúp sức. Do đó, Bản cáo trạng số:122/CT-VKS-P2 ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo D về tội “Giết người” theo tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội cũng như vai trò đồng phạm tham gia trong vụ án của bị cáo HĐXX nhận thấy:
[3.1] Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, bởi lẻ, Quyền con người luôn được pháp luật, mọi hành vi xâm phạm đến khách thể nói trên một cách trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng đều bị pháp luật trừng trị và xử lý, tùy theo tính chất, mức độ do hành vi trái pháp luật đó gây ra, bị cáo, cũng như Đặng Anh T2 có đủ nhận thức được điều đó, nhưng với bản tính côn đồ hung hản, coi thường mạng sống của người khác, mặc dù trong vụ án này bị cáo không phải là người trực tiếp tham gia cùng gây ra thương tích cho anh N, song việc đi theo T2 và đuổi đánh anh T4, tạo điều kiện để T2 dùng dao chém anh N (chết) là đồng phạm tham gia với vai trò giúp sức cho T2 về mặt tinh thần, nên bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự chung về hậu quả do T2 gây ra, vì vậy, hành vi của bị cáo cũng trực tiếp xâm phạm đến tính mạng con người luôn được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Do đó, việc các cơ quan tiến hành tố tụng bắt khởi tố điều tra, truy tố bị cáo ra trước pháp luật để xử lý nhằm trừng trị riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), đại diện gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, mặt trong vụ án này bị cáo không phải là người trực tiếp gây ra cái chết cho bị hại mà chỉ tham gia với vai trò đồng phạm thứ yếu, hiện tại hoàn cảnh gia đình khó khăn; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
[4.3] Về quyết định hình phạt: Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, bị truy tố có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, tuy bản thân bị cáo có nhân thân không tốt, song xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS, nên HĐXX áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt cho bị cáo, đồng thời tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội như đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa là phù hợp, song về mức hình phạt mà đại diện VKS đề nghị tại phiên tòa, HĐXX không chấp nhận.
[5] Xét luận cứ bào chữa và đề nghị của luật sư người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng, việc luật sư đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51 và khoản 1 Điều 54 BLHS là phù hợp với phần nhận định tại các tiểu mục [4.2] và [4.3] nêu trên, nên HĐXX chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên HĐXX không đề cập đến.
[7] Về xử lý vật chứng và những vấn đề có liên quan trong vụ án: Đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 16//HS-ST ngày 11/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, nên HĐXX không đề cập trong bản án này.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
[9.1] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9.2] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, được quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
I. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lê Tấn D phạm tội “Giết người”.
II. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt: Bị cáo Lê Tấn D: 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 23/3/2024.
II. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Tấn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
V. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng đại diện hợp pháp người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Vĩnh Chuyển |
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 17/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm về tội giết người
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Tân D bị Xử phạt 11 (mười một) năm tù về tội “Giết người”.
