|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HS-ST
Ngày: 16-4-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Dựa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Ngọc Thủy
- Ông Nguyễn Ngọc Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Xuân Trúc U; Giới tính: Nữ; Sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 401 Lô A, chung cư C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: E khu phố E, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân Quốc B và bà Trần Thị Diễm T; Bị cáo chưa có chồng. Bị cáo có 01 con sinh năm 2023; Tiền án:; Tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)
* Bị hại:
Bà Phan Thị Thu L, sinh năm: 1983;
Địa chỉ: D ấp D, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Ông Huỳnh Tấn L1, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: D ấp D, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Nguyên đơn dân sự: Doang nghiệp tư nhân vàng bạc đá quý X
Địa chỉ: B B, phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Q, sinh năm: 1981;
Địa chỉ: 3 C, phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Hoàng Y, sinh năm: 1982;
Địa chỉ: C B, khu phố C, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Ông Nguyễn Hoàng Q1, sinh năm: 2001;
Địa chỉ: E khu phố E, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Trần Xuân Trúc U nảy sinh ý định cướp giật tài sản của tiệm vàng. Khoảng 14 giờ ngày 12/7/2023, U điều khiển xe mô tô Honda Vario màu đen biển số 63B5-572.25 đến tiệm V tại địa chỉ D Ấp D, xã H, huyện B, đậu xe mô tô ngang cửa tiệm rồi vào trong gặp anh Huỳnh Tấn L1 là chủ tiệm vàng hỏi mua vòng tay bằng vàng. Sau khi xem thì U chọn 02 bộ vòng tay (ximen) bằng vàng 18K (bộ thứ nhất gồm 07 chiếc nặng 6,52 chỉ, bộ thứ 2 hai gồm 07 chiếc nặng 6,73 chỉ), có tổng trọng lượng là 1,325 lượng, anh L1 báo giá là 49.000.000 đồng. Sau đó, U nói sẽ trả tiền thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng nên anh L1 đưa số tài khoản cho U, U giả vờ bấm điện thoại rồi báo cho anh L1 là đã chuyển khoản xong. Anh L1 nói U chờ điện thoại của anh L1 báo đã nhận được tiền vào tài khoản ngân hàng. Trong lúc này, U yêu cầu anh L1 đeo 02 bộ vòng vào tay bên phải cho U. Sau khi đeo xong, anh L1 kêu U ngồi chờ đến khi nào điện thoại của anh L1 thông báo tài khoản ngân hàng của anh L1 đã nhận được tiền do U chuyển khoản thì về. Khoảng 05 phút sau, lợi dụng khi anh L1 đang tiếp khách hàng khác, U hỏi anh L1 đã nhận được tiền chuyển khoản chưa, anh L1 trả lời chưa nhận được thì U giả vờ nói với anh L1 là để U đi ra xe mô tô lấy tiền mặt trả cho anh L1 rồi nhanh chóng đi ra khỏi tiệm, leo lên xe mô tô tẩu thoát. Thấy vậy, anh L1 lấy xe đuổi theo nhưng không đuổi kịp.
Sau khi tẩu thoát, U đến tiệm V1 địa chỉ B B, Phường E, Quận H bán 02 bộ vòng vàng vừa cướp giật được cho chủ tiệm là anh Trần Q được 41.000.000 đồng. Ngoài ra, U còn bán cho anh Trần Q thêm 02 bộ vòng vàng là tài sản của U với giá 31.000.000 đồng. Sau đó, U đến tiệm V2 địa chỉ C Khu phố C, Thị trấn T, huyện B, dùng 25.000.000 đồng trong số tiền bán vòng vàng của mình để chuộc lại 01 lắc vàng, 01 dây chuyền vàng, 02 nhẫn vàng mà U đã cầm tại đây. Sau đó, U cất giữ số tiền còn lại cùng toàn bộ số trang sức vừa chuộc được vào túi quần rồi đi về nhà trọ, khi biết Cơ quan Công an đang tìm mình thì U bỏ trốn ở nhiều nơi, trên đường bỏ trốn đã làm rơi mất số tiền 16.000.000 đồng, 01 lắc vàng, 01 dây chuyền vàng, 02 nhẫn vàng vừa chuộc được.
Cùng ngày 12/07/2023, anh Huỳnh Tấn L1 đã đến Công an xã H trình báo sự việc. Qua kiểm tra hình ảnh camera tiệm vàng, xác định xe mô tô Honda Vario biển số 63B5-572.25 do anh Nguyễn Hoàng Q1 đứng tên chủ sở hữu nên Công an xã H mời anh Q1 lên làm việc. Anh Q1 cho biết vào khoảng 09 giờ 30 ngày 12/07/2023, anh Q1 cho Trần Xuân Trúc U - người sống chung như vợ chồng với anh Q1 mượn xe mô tô này đi công chuyện nhưng chưa thấy quay về. Cơ quan Công an tiến hành cho anh Q1 xem hình ảnh trích xuất từ camera tại tiệm vàng thì anh Q1 xác định người thực hiện vụ cướp giật là U. Sau đó, anh Q1 đã liên lạc với U và vận động U đến Công an xã H đầu thú.
Ngày 13/07/2023, Trần Xuân T1 Uyên đến Công an xã H đầu thú, giao nộp số tiền 31.000.000 đồng còn lại. Công an xã H đã lập hồ sơ ban đầu, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra, xử lý.
Qua làm việc, anh Trần Q khai không biết 02 bộ vòng tay vàng mà U bán là tài sản do phạm tội mà có, đồng thời anh Q đã giao nộp 02 bộ vòng tay vàng cho Cơ quan Công an.
Kết luận giám định số 5974/KL-KTHS ngày 27/9/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: 14 chiếc vòng kim loại màu vàng có thành phần kim loại Vàng (A), hàm lượng Vàng trung bình là 60,04%, tổng khối lượng 49,64 gam. (BL 25-28)
Kết luận định giá tài sản số 3572/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định: 14 chiếc vòng trang sức, được làm bằng kim loại màu vàng có in chữ LL610 trị giá 48.020.000 đồng. (BL 29-33)
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Trần Xuân Trúc U khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của anh Huỳnh Tấn L1, anh Trần Q, anh Nguyễn Hoàng Q1, nhân chứng, phù hợp với hình ảnh camera và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. (BL 182-195)
Cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố các bị cáo Trần Xuân Trúc U về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 171 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Trần Xuân T1 Uyên từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù và xử lý vật chứng theo quy định
Về dân sự: Bị hại ông Huỳnh Tấn L1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Ông Trần Q (đại diện của tiệm V1) yêu cầu U bồi thường số tiền 41.000.000 đồng đã mua 02 bộ vòng vàng của U.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh, số máy MLF53LL/A và 01 sim số 0708057564.
- 01 hộp giấy được niêm phong, bên trong có: 01 áo thun ngắn tay màu xang có dòng chữ “Ugurs Lee music motecycles mewherithgf" (mặt sau) và dòng chữ “ugurs L2” (mặt trước); 01 quần thun dài màu đen vải nỉ; 01 áo khoác màu tím; 01 nón bảo hiểm màu xám nhãn hiệu nón S. Đây là trang phục mà U mặc khi đi cướp giật tài sản.
- Số tiền 31.000.000 đồng thu giữ của U, là tiền bán tài sản cướp giật có được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã nộp vào Kho bạc nhà nước huyện B. (BL 110)
- 14 chiếc vòng kim loại màu vàng (thu giữ tại tiệm V1). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho anh Huỳnh Tấn L1. (BL 41-43)
- 01 xe mô tô Honda Vario biển số 63B5-572.25, qua xác minh do anh Nguyễn Hoàng Q1 đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 12/7/2023, anh Q1 cho U mượn xe để đi công việc, không biết U sử dụng xe này vào mục đích cướp giật tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho anh Q1. (BL 38-40)
- 02 USB chứa hình ảnh camera, chuyển kèm hồ sơ vụ án (BL 70, 137).
Đối với các vật chứng tại khoản (1), (2), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh tạm giữ, chờ xử lý. (BL 249).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 12/7/2023, bị cáo Trần Xuân Trúc U đã công khai chiếm đoạt 02 bộ vòng tay (ximen) bằng vàng 18K (bộ thứ nhất gồm 07 chiếc nặng 6,52 chỉ, bộ thứ 2 hai gồm 07 chiếc nặng 6,73 chỉ), có tổng trọng lượng là 1,325 lượng có trị giá 48.020.000 đồng của anh Huỳnh Tấn L1 tại tại địa chỉ D Ấp D, xã H, huyện B. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo, ngang nhiên nơi đường phố đông người qua lại; gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương; làm ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tù là chưa tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Xét bị cáo không có công việc ổn định nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo ra đầu thú, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, phạm tội trong thời gian đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Đối với anh Trần Q là người mua 02 bộ vòng vàng mà U đã cướp giật, do anh Q không biết đây là tài sản do U phạm tội mà có nên không xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” hay “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Tấn L1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Anh Trần Q (đại diện của tiệm V1) yêu cầu bị cáo U bồi thường số tiền 41.000.000 đồng đã mua 02 bộ vòng vàng của U. Buộc bị cáo U bồi thường cho tiệm V1 số tiền là 41.000.000 đồng.
[7] Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã lập biên bản giao trả lại cho bị hại cho anh Huỳnh Tấn L1 14 chiếc vòng kim loại màu vàng (thu giữ tại tiệm V1) nên không xem xét.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã lập biên bản giao trả lại cho anh Nguyễn Hoàng Q1 01 xe mô tô Honda Vario biển số 63B5-572.25, nên không xem xét.
[8] Xử lý vật chứng:
[8.1] 01 điện thoại di động Iphone 13, màu xanh, số máy MLF53LL/A và 01 sim số 0708057564 của bị cáo U: Trả lại cho bị cáo U do không liên quan đến hành vi phạm tội.
[8.2] 01 hộp giấy được niêm phong, bên trong có: 01 áo thun ngắn tay màu xang có dòng chữ “Ugurs Lee music motecycles mewherithgf" (mặt sau) và dòng chữ “ugurs L2” (mặt trước); 01 quần thun dài màu đen vải nỉ; 01 áo khoác màu tím; 01 nón bảo hiểm màu xám nhãn hiệu nón S. Đây là trang phục mà U mặc khi đi cướp giật tài sản. Những vật chứng này không có giá trị hoặc bị thu giữ lâu không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
[8.3] Số tiền 31.000.000 đồng thu giữ của U, là tiền bán tài sản cướp giật có được. Đây là số tiền mà anh Trần Q đã bỏ ra để mua số vàng mà bị cáo U đã cướp giật mà có nên trả lại cho tiệm V1.
Bảo lưu hồ sơ vụ án 02 USB chứa hình ảnh camera.
[9] Về án phí sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Xuân Trúc U: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ chấp hành án.
* Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Trả lại cho bị cáo Trần Xuân T1 Uyên: 01 (một) điện thoại di động Iphone 13, màu xanh, số máy MLF53LL/A và 01 sim số 0708057564.
- Trả lại cho Doang nghiệp tư nhân vàng bạc đá quý X (người đại diện theo pháp luật là ông Trần Q): Số tiền 31.000.000 (ba mươi mốt triệu) đồng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp giấy được niêm phong, bên trong có: 01 áo thun ngắn tay màu xang có dòng chữ “Ugurs Lee music motecycles mewherithgf” (mặt sau) và dòng chữ “ugurs L2” (mặt trước); 01 quần thun dài màu đen vải nỉ; 01 áo khoác màu tím; 01 nón bảo hiểm màu xám nhãn hiệu nón S.
Bảo lưu hồ sơ vụ án 02 USB chứa dữ liệu hình ảnh do camera ghi lại liên quan đến vụ án.
(Các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2024 giữa công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh và giấy nộp tiền vào kho bạc nhà nước ngày 20/12/2023).
*Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584, Điều 585; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Xuân Trúc U bồi thường cho Doang nghiệp tư nhân vàng bạc đá quý X số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Kể từ ngày bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
* Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 (năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Bị hại, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Dựa |
Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 91/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
