Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày: 05 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Lin

Bà Trần Thị Đổi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm phòng xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024. Phiên tòa được tiến hành tại hai điểm cầu, điểm cầu trung tâm tại Phòng xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An và điểm cầu thành phần tại Phòng xét xử trực tuyến - Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, xét xử đối với bị cáo.

Họ và tên: Trần Vũ L, tên gọi khác: Ty.

Ngày, tháng, năm sinh: 05/11/2000, nơi sinh: Tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; chức vụ trước khi phạm tội: Không; trình độ học vấn: 7/12; Họ và tên cha: Trần Văn G, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Lê Thị L1, sinh năm 1970; A, chị em ruột: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 1997; Vợ, con: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt Trần Vủ L 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trần Vủ L chấp hành xong bản án vào ngày 13/02/2022, chưa xóa án tích.

Bị cáo Trần Vủ L đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến - Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Lê Minh M, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Long An; vắng mặt.

Người chứng kiến: Hà Văn H, Nguyễn Văn Đ; vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác: Ông Mai Tấn Đ1 – Chiến sĩ phục vụ có thời hạn thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An; có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 01/02/2024, Trần Vũ L điều khiển xe mô tô loại Dream, màu xanh, số khung: Không có, số máy: Không có, biển số: 62P2-222.22 đi từ khu vực ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đến khu vực ngã Ba G, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người đàn ông không xác định nhân thân lai lịch hỏi mua 1.000.000 đồng chất ma túy (dạng đá) mục đích để sử dụng, người này đồng ý và chỉ chỗ cất giấu chất ma túy tại gốc cây gần vị trí người đàn ông đang đứng cho L đến lấy. L trả tiền mua chất ma túy cho người đàn ông này và đi lại nơi cất giấu chất ma túy lấy 01 túi nylon hàn kín bên trong có chứa chất ma túy (dạng đá) được gói trong tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng và có quấn băng keo màu đen bên ngoài, L lấy túi nylon chứa chất ma túy cất giấu vào túi quần bên trái phía trước đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà trọ để sử dụng.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày 01/02/2024, khi L đi đến đường số A thuộc khu vực khu dân cư T, ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị Công an xã Đ, huyện Đ phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 túi nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy (dạng đá).
  • - 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng.
  • - 01 xe mô tô loại Dream, màu xanh, số khung: Không có, số máy: Không có, biển số: 62P2-222.22.

Tại Kết luận giám định số 93/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận:

“Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nylon hàn kín được đóng gói niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 5,0138 gam, loại: Methamphetamine.

Kèm theo kết luận giám định: Không có.

Bản ảnh giám định gồm 07 ảnh được lưu tại Phòng K, Công an tỉnh L.

H1 lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 4,2851 gam và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong số 93”.

Qua điều tra xác định: xe mô tô loại Dream, màu xanh, số khung: Không có, số máy: Không có, biển số: 62P2-222.22 là tài sản của bị cáo Trần Vủ L mua lại của người đàn ông không biết tên vào khoảng năm 2023 để sử dụng.

Biển số 62P2-222.22, qua tra cứu xác định: Biển số 62P2-222.22 là của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Super Dream màu nâu, số máy: HA08E0704978, số khung: RLHHA08015Y705015 do Lê Minh M đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Hiện xe mô tô này M đang quản lý sử dụng.

Tại Cáo trạng số 89/CT-VKSĐH ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Vủ L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Vủ L trình bày: Bị cáo thừa nhận là người nghiện ma túy từ tháng 6/2022. Ngày 01/2/2024, bị cáo mua chất ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch về mục đích để sử dụng không bán hoặc tổ chức cho ai sử dụng. Bị cáo thống nhất hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát biểu luận tội: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Vủ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Vủ L mức hình phạt từ 05 năm đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024.

Về tang vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 4,2851 gam là chất ma túy loại Methamphetamine và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong số 93; 01 biển số: 62P2-222.22. Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô loại Dream, màu xanh, số khung: Không có, số máy: Không có và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng. Các tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 104-4/06/2024 ngày 30/5/2024.

Đối với người đàn ông có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo L nhưng không xác định được nhân thân lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của L nên không có căn cứ xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên tòa, vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người chứng kiến nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ khoản 2 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[1.3] Quá trình điều tra thấy rằng tại danh chỉ bản, giấy khai sinh của bị cáo và trích lục tiền án, tiền sự của Công an tỉnh L cũng như lý lịch nhân thân bị cáo và tại phiên tòa bị cáo đều xác định tên bị cáo là Trần Vủ L và bị cáo chính là bị án trong bản án số 136/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Vủ L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 01/02/2024 cùng với Bản kết luận giám định số: 93/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/02/2024, tại đường số A thuộc khu dân cư T, ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Trần Vủ L có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy có khối lượng là 5,0138 gam, loại: Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bắt giữ quả tang.

Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 5,0138 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Trần Vủ L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Vủ L theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Hành vi của bị cáo Trần Vủ L là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, gây mất trật tự xã hội.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của chất ma túy đối với xã hội và bản thân bị cáo. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ trái phép dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bị cáo, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[4.1]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trần Vủ L thành khẩn khai báo và trong lời nói sau cùng bị cáo có ý thức ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

[4.2]. Về tình tiết tăng nặng: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt Trần Vủ L (Trần Vũ L2) 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo Trần Vủ L chấp hành xong bản án vào ngày 13/02/2022, chưa xóa án tích bị cáo lại phạm tội mới thuộc trường hợp tái phạm nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử cũng cần phải xem xét khi lượng hình.

[5]. Từ phân tích tại mục [2], [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Trần Vủ L là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy tại phiên tòa bị cáo Trần Vủ L trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Vủ L là phù hợp.

[7]. Về tang vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đối với Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 4,2851 gam là chất ma túy và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong số 93; 01 biển số: 62P2-222.22 (là biển số không có đăng ký của cơ quan chức năng) bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 xe mô tô loại Dream, màu xanh, số khung: Không có, số máy: Không có và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng là vật chứng vụ án còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.

Các tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 104-4/06/2024 ngày 30/5/2024.

[8] Đối với người đàn ông không xác định nhân thân, lai lịch có hành vi bán chất ma túy cho bị cáo Trần Vủ L, chỉ có chứng cứ là lời khai duy nhất của bị cáo L nên chưa đủ căn cứ xử lý đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.

[9]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Vũ L chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Vủ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điển h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Vũ L 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024.

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Vủ L 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/7/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 4,2851 gam là chất ma túy loại Methamphetamine và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong số 93; 01 biển số: 62P2-222.22 .
  • - Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước đối với 01 xe mô tô loại Dream, màu xanh, số khung: Không có, số máy: Không có và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng.

Vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 104-4/06/2024 ngày 30/5/2024

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Vủ L phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

4. Án này là sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Đức Hòa;
  • - CQ THAHS Công an huyện Đức Hòa;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Đức Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Vủ L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger