Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-PT

Ngày 17-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Phương

Bà Phạm Phong Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 77/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Võ Định C do có kháng cáo của bị cáo C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 96/2024/QĐXXPT-HS ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Bị cáo có kháng cáo:

Võ Định C (Tên gọi khác: T), sinh năm 1987, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Nơi ở hiện tại: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Phật giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Võ Phi L, sinh năm: 1962 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1962. Vợ Lê Thị Hồng T1, sinh năm: 1990 và có 02 con chung, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Võ Định C bị bắt tạm giam vào ngày 26/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. Bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Võ Định C: Luật sư Nguyễn Mạnh L1, Công ty L3 và cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố H. (Có mặt)

- Các bị cáo không có kháng cáo:

  1. Đặng Anh D (Tên gọi khác: Đ), sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Tổ H, khu phố K, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện tại: Số A, đường A, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn T2, sinh năm: 1972 và bà Trương Thị Ngọc G, sinh năm: 1974; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Đặng Anh D bị tạm giữ vào ngày 01/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L.
  2. Nguyễn Hữu Hoàng H, sinh năm 2001 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện tại: Phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm: 1975 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1981; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Nguyễn Hữu Hoàng H bị tạm giữ vào ngày 01/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L.
  3. Trương Thị Mỹ D1, sinh năm 1996 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ A, Ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Thanh L2, sinh năm: 1975 và bà Võ Thị Ngọc Y, sinh năm: 1973; Chồng Lê Phú T3, sinh năm: 1991 (Đã ly hôn) và 01 con chung; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Trương Thị Mỹ D1 bị tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến ngày 04/8/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 31/7/2023, Đặng Anh D (sinh năm: 1995), Nguyễn Hữu Hoàng H (sinh năm: 2001), Trương Thị Mỹ D1 (sinh năm: 1996), Nguyễn Đức H3 (sinh năm: 1991), Mai Thị T4 (sinh năm: 1991), Nguyễn Hoài Như N (sinh năm: 1991), Nguyễn Thị Thùy D2 (sinh năm: 1991), Nguyễn Thị Yến T5 (sinh năm: 1991), Nguyễn Minh H4 (sinh năm: 1991) và Nguyễn Phương N1 (sinh năm: 1991) tổ chức đi từ Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra thị xã L để du lịch. Trước đó, nhóm đã thuê các phòng số 26, 27, 28 nhà nghỉ H5 thuộc khu phố C, phường T, thị xã L. Sau khi đến nơi, nhóm có đón thêm bạn của H là Võ Định C (sinh năm: 1987) đến chơi chung.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, nhóm tổ chức ăn nhậu tại khu vực sân thượng của Homestay Bingo. Trong lúc nhậu, sau khi nghe H và C kể chuyện trước đây đã từng sử dụng ma tuý tại thị xã L và biết chỗ mua ma tuý. Sau đó, D muốn sử dụng ma túy và D có nói “Đồ ăn ở đây dỡ quá, có nước ăn “cơm nguội” tức là hàm ý muốn sử dụng ma túy.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, D1 mệt nên xuống phòng số 27 nằm nghỉ, còn D, H, C và một số người khác tiếp tục nhậu. Lúc này, D sử dụng tài khoản Zalo “Nvb” của D nhắn tin qua tài khoản Zalo “Nguyễn Hữu Hoàng H” của H để hỏi giá mua 05 viên thuốc lắc và nửa hộp ma túy dạng khay thì H trả lời giá mua nửa hộp ma túy dạng khay là 3.500.000 đồng và thuốc lắc là 350.000 đồng/viên; D tiếp tục nhắn tin hỏi H giá mua 04 viên thuốc lắc và nửa hộp ma túy dạng khay thì được H nói giá là 4.900.000 đồng. Sau đó, D, H và C rủ nhau xuống khu vực vệ sinh phòng số 27 để bàn bạc về việc mua ma tuý sử dụng. Tại đây, D hỏi H biết chỗ mua ma tuý sử dụng không thì H trả lời biết chỗ mua nhưng không có tiền và C cũng nói không có tiền. Nghe vậy, D nói nếu không có tiền thì D sẽ bỏ tiền ra mua trước, sau này mua ma túy về sử dụng hết bao nhiêu tiền thì chia đều ra rồi trả lại cho D sau nên H và C đồng ý. Sau đó, D nói H và C thuê thêm một phòng để sử dụng ma tuý thì H và C đồng ý. Sau khi thống nhất xong, D sử dụng tài khoản ngân hàng số [...] - Ngân hàng V1 chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng số [...] - Ngân hàng S của H số tiền 5.500.000 đồng, gồm tiền mua ma túy và tiền thuê phòng.

Sau đó, H đi ra gặp bảo vệ nhà nghỉ H5 thuê phòng số 24 với giá 550.000 đồng. Tiếp đó, H sử dụng điện thoại Iphone màu trắng, gắn sim số 0965.765244 gọi điện cho một người đàn ông lưu tên trong danh bạ là “Nhận”, qua số điện thoại 0792.808.xxx để hỏi mua 02 viên thuốc lắc và 02 chấm ma túy dạng khay (do sợ không dùng hết nên H mua ít hơn so với bàn bạc với D và C trước đó). Sau khi thuê phòng và gọi điện mua ma tuý xong, H nói cho D và C biết rồi đi lên trên sân thượng tiếp tục nhậu cùng với D, D1 và một số người khác.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, có số điện thoại 0393.854.xxx gọi cho H nói ra trước Homestay BinGo để nhận ma túy. H đi ra thì thấy hai người phụ nữ và người này đưa cho H một bịch ma túy dạng khay cùng với 02 viên ma tuý màu nâu đen. Theo yêu cầu của người phụ nữ này, H sử dụng số tài khoản ngân hàng số E chuyển số tiền 3.900.000 đồng mua ma tuý vào tài khoản ngân hàng số 0193854619 - Ngân hàng TMCP Q - chủ tài khoản là Nguyễn Thị C1.

Sau khi mua được ma tuý, H cầm vào phòng số 24 để chuẩn bị cho việc tổ chức, sử dụng ma tuý. Tại phòng lúc này có H, D, D1 và C. Lúc này, D đã qua phòng số 28 của Mai Thị T4 mượn được 01 chiếc loa về để mở nhạc, C đứng bên ngoài phòng kiểm tra độ ồn của loa; còn H đi vào trong nhà vệ sinh lấy 01 viên ma tuý màu nâu đen bẻ làm đôi và cầm ra ngoài phòng đưa cho D1 một nửa viên. Khi nhận ½ viên ma tuý từ H, D1 biết đây là ma tuý nên dùng tay bè làm hai phần, một phần D1 sử dụng tại đây, còn lại một phần D1 cầm trên tay. Do phòng số 24 nằm phía ngoài không thuận lợi cho việc sử dụng ma tuý nên D nói mọi người chuyển qua phòng số 27 nơi H4, T5 và H3 đang nằm ngủ. Lúc này, H kêu H4 và T5 qua phòng số 24 ngủ, còn H3 vẫn nằm ngủ trên giường. Tại phòng số 27, D1 đưa phần ma túy đang cầm trên tay cho D và D sử dụng số ma tuý này; H cũng bè ½ viên ma tuý màu nâu đen ra làm đôi và đưa một phần cho C sử dụng, còn H sử dụng phần còn lại. Sau đó, H dùng bật lửa nghiền số ma tuý dạng khay ra, dùng 02 tờ tiền Ngân hàng N3 mệnh giá 2000 đồng và 01 tờ tiền của Ngân hàng N3 làm dụng cụ để sử dụng ma tuý dạng khay. Sau đó, H lần lượt chia ma tuý dạng khay cho H, D, C và D1 cùng nhau sử dụng nhiều lần, vừa sử dụng vừa nghe nhạc.

Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 01/8/2023, khi D, D1, H và C đang sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an thuộc Đội CSĐT tội phạm về Kinh tế - Ma tuý Công an thị xã L ập vào bắt quả tang. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện, thu giữ:

  • - Thu giữ dưới nền nhà sát bên giường bên phải và sát bên chân trái của H có 01 bịch nylon màu trắng, một đầu có nhíp kéo màu trắng viền màu đỏ, kích thước (4x7)cm, bên trong chứa:
    • + 01 bịch nylon màu trắng, một đầu có nhíp kéo màu trắng viền màu đỏ, kích thước (3x4)cm, một mặt của bịch nylon có biểu tượng hình mặt cười màu đỏ, bên trong bịch nylon chứa chất dạng rắn màu trắng (Ký hiệu M1).
    • + 01 viên nén màu nâu - đen, hình vương miện, một mặt của viên nén có in hình vương miện, mặt còn lại có hàng chữ ROLEX (Ký hiệu M2).
  • - Thu giữ trên giường phía bên phải sát vị trí H đứng về phía bên phải có 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng của Ngân hàng N3, trên tờ tiền có hàng chữ và số ZN 5604978, được gấp lại, bên trong có chứa chất bột màu trắng (Ký hiệu M3).
  • - Thu giữ dưới nền nhà cách đuôi giường phía bên phải khoảng 01 mét có 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng của Ngân hàng N3, trên tờ tiền có hàng chữ và số ZP 2265396, được gấp lại, bên trong có chứa chất bột màu trắng (Ký hiệu M4).
  • - Thu giữ dưới nền nhà sát đuôi giường phía bên phải có 01 tờ tiền của Ngân hàng N3 MALAYSIA màu xanh, trên tờ tiền có hàng chữ và số DT 8482948.
  • - Thu giữ trên ghế ở sát bên đuôi giường phía bên phải có 01 loa màu đen - trắng, hiệu K BEAT BOX, kích thước (45 x 25,5 x 22,5)cm.
  • - Thu giữ trên kệ để Tivi đối diện ở giữa hai chiếc giường trong phòng có 01 bật lửa màu trắng - đỏ - cam, trên bật lửa có hàng chữ VẠN XUÂN màu đen.
  • - Thu giữ: của H 01 điện thoại di động hiệu hiệu Iphone màu trắng, gắn sim: 0965.765244; của D 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh - vàng - tím, gắn 02 sim (sim 1: 0797871211, sim 2: 0327675263); của D1 01 điện thoại di động Iphone, màu đen, gắn sim: 0398567559; của Chiêu 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu Gold, gắn sim số: 0902578478.

Tiến hành xét nghiệm tại Bệnh viện Đ1, cả Đặng Anh D, Nguyễn Hữu Hoàng H, Võ Định C và Trương Thị Mỹ D1 đều dương tính với chất Ketamine.

Tại Kết luận giám định số 971/KL-KTHS ngày 09/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 1,2969 gam, là Ketamine; Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,4324 gam, là Ketamine; Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,0728 gam, là Ketamine; Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 0,0275 gam, là Ketamine.

Vật chứng thu giữ trong vụ án đã được xử lý như sau:

Đối với 01 bịch nylon màu trắng, một đầu có nhíp kéo màu trắng viền màu đỏ và 01 bịch nylon màu trắng, một đầu có nhíp kéo màu trắng viền màu đỏ, một mặt của bịch nylon có biểu tượng hình mặt cười màu đỏ cùng 1,2676 gam mẫu M1 và 0,2043 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 971/1; 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, có chữ và số ZN 5604978 cùng 0,0463 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 971/2; 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, có chữ và số ZP 2265396 cùng 0,0094 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 971/3, đều có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 tờ tiền của Ngân hàng N3 màu xanh, trên tờ tiền có hàng chữ và số DT 8482948; 01 bật lửa màu trắng - đỏ - cam, trên bật lửa có hàng chữ VẠN XUÂN màu đen; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Iphone màu trắng, gắn sim: 0965.765244 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu xanh - vàng - tím, gắn 02 sim (sim 1: 0797871211, sim 2: 0327675263)

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi đã quyết định:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm g khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Anh D, Nguyễn Hữu Hoàng H, Võ Định C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Xử phạt: Bị cáo Đặng Anh D 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt tù chung của 02 tội, buộc bị cáo Đặng Anh D phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 01/8/2023.

  1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu Hoàng H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt tù chung của 02 tội, buộc bị cáo Nguyễn Hữu Hoàng H phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 01/8/2023.

  1. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm g khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Võ Định C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt tù chung của 02 tội, buộc bị cáo Võ Định C phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam vào ngày 26/3/2024.

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trương Thị Mỹ D1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Thị Mỹ D1 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến ngày 04/8/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng biết.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, bị cáo Võ Định C kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Định C, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C mỗi tội 06 tháng tù.

- Ý kiến của bị cáo C: Vì thiếu hiểu biết pháp luật nên bị cáo nghĩ hành vi của mình là không vi phạm pháp luật, tại giai đoạn xét xử sơ thẩm bị cáo trình bày hành vi của mình không rõ ràng, nay bị cáo đã nhận thức được là mình đã phạm tội. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo đã ăn năn hối cải, hoàn cảnh khó khăn: có 02 con nhỏ, vợ thì hay bệnh đau.

- Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo C: Thống nhất với tội danh mà bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo C. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Định C nộp trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án và tội danh bị Tòa sơ thẩm xét xử: Vào tối ngày 31/7/2023, tại nhà nghỉ H5 thuộc khu phố C, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Đặng Anh D, Nguyễn Hữu Hoàng H và Võ Định C đã cùng bàn bạc góp tiền mua ma tuý về thuê phòng tại nhà nghỉ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Theo thỏa thuận thì do H và C không có tiền nên D ứng tiền ra trước, sau này H và C góp lại trả D sau. D chuyển trước cho H số tiền 5.500.000 đồng và H đã liên lạc mua được 01 bịch ma tuý dạng khay và 02 viên ma tuý màu nâu đen với giá 3.900.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, H đem ma tuý vào phân ra cho H, D, C và Trương Thị Mỹ D1 cùng nhau sử dụng ma tuý tại phòng số 27. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 01/8/2023, khi D, H, C và D1 đang sử dụng ma tuý thì bị Đội CSĐT tội phạm về Kinh tế - Ma tuý Công an thị xã L bắt quả tang. Thu giữ tổng cộng 1,8296 gam Ketamine và các dụng cụ gồm bật lửa, loa, tiền các loại.

Với hành vi của Võ Định C và Đặng Anh D, Nguyễn Hữu Hoàng H nêu trên nên đã bị Tòa án thị xã L xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép ma túy”, với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Trương Thị Mỹ D1 bị xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Võ Định C:

Bị cáo C tại phiên tòa sơ thẩm thừa nhận là có sự việc bàn bạc cùng D, H nhưng chưa góp tiền nên bị cáo cho rằng hành vi của mình chưa cấu thành tội phạm. Ngoài ra bị cáo còn thừa nhận việc nghe theo sự chỉ đạo của D ra ngoài phòng số 24 để kiểm tra độ ồn của loa, bị cáo cho rằng đây không phải việc chuẩn bị cho việc sử dụng ma túy. Vì vậy, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội. Sau khi bản án sơ thẩm được tuyên và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo C đã nhìn nhận lại được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, khẳng định Tòa án sơ thẩm tuyên bị cáo tội danh như trên là đúng pháp luật; bị cáo không chối cải hành vi của mình nhưng vì do hạn chế hiểu biết pháp luật nên nghĩ hành vi đó của bị cáo là không vi phạm pháp luật. Nay bị cáo đã thành khẩn và ăn năn về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt so với bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo C có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; về vai trò của bị cáo C trong vụ án là thứ yếu, giúp sức và mờ nhạt hơn so với D, H. D là người chủ động đề xướng, ứng tiền mua ma túy, H là người trực tiếp liên hệ mua ma túy, thuê phòng, C thì chỉ đồng ý sẽ góp tiền và kiểm tra độ ồn của loa. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy kháng cáo của bị cáo C xin giảm nhẹ hình phạt là có cơ sở để chấp nhận theo như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị của Luật sư.

[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Định C, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt

[5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Định C. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm g khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Võ Định C 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt tù chung của 02 tội, buộc bị cáo Võ Định C phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam vào ngày 26/3/2024.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (17/9/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS, CA, TA, THA TX La Gi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - PV06 - Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - TỔ HCTP – TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 91/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger