TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-9-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên Vy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Bình
- Ông Lê Huỳnh Sinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 370/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Xuân H, sinh năm 1990.
- Địa chỉ: Khu phố G, phường Đ, TP . - T (Có mặt)
- - Bị đơn: Ông Chế Kim P, sinh năm 1991.
- Địa chỉ: Khu phố E, phường M, thành phố P - T (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/6/2024 và quá trình tố tụng, Nguyên đơn bà Trần Thị Xuân H trình bày:
Bà và ông Chế Kim P sau một thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân tự nguyện, vợ chồng có tổ chức cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30 ngày 28 tháng 3 năm 2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn cho đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm nên chung sống không hòa hợp; ông P còn lười lao động, mặc dù ngày nào ông cũng đi từ sáng sớm cho đến khuya mới về, khi bà hỏi thì chỉ nói đi làm nhưng bà không biết ông làm gì và cũng không thấy mang tiền đi làm về đưa cho bà chi phí cho gia đình; ngoài ra, ông còn gây nợ rồi đổ lỗi do làm ăn thua lỗ, năm 2016, 2019 bà từng trả nợ cho ông P nhiều lần do ông bài bạc, cá độ, bida, riêng lần gần đây ông P nợ trên 300.000.000 đồng. Trước đây, bà đã nộp đơn xin ly hôn ông P, khi đó ông P năn nỉ, hứa hẹn thay đổi sẽ lo làm ăn; nhưng khi bà rút đơn về, ông P vẫn tính nào tật đó, bà tiếp tục khuyên ông rất nhiều nhưng ông vẫn không thay đổi; từ đó mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn, vợ chồng không thể chung sống với nhau nên cả hai ly thân, bà và con về nhà mẹ ruột bà sống từ năm 2023 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Chế Kim P.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Chế Trần Tú A, sinh ngày 18/8/2012, Chế Trần Tú V, sinh ngày 28/6/2016. Hiện hai con đang ở cùng bà, thỉnh thoảng ông P có đưa các con về thăm nội; các con được bà chăm sóc chu đáo, sức khỏe và học tập đầy đủ của hai con được đảm bảo. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà làm nghề tóc thu nhập bình quân mỗi tháng 10.000.000 đồng, đủ khả năng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn ông Chế Kim P trình bày:
Ông và bà Trần Thị Xuân H kết hôn vào năm 2012, đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố P - T. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn kéo dài đến nay. Nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm nên chung sống không hòa hợp; ngoài ra, do ông làm ăn thua lỗ, nợ nần nên ông bỏ nhà đi một thời gian, sau đó ông quay về lại thì vợ ông muốn ly hôn. Hiện vợ chồng không còn sống chung từ năm 2023 cho đến nay, vợ không còn quan tâm đến ông, mặc dù ông quan tâm, hỏi thăm vợ nhưng vợ bỏ mặc ông. Nhiều lần ông năn nỉ vợ quay về chung sống nhưng bà H không đồng ý vì bà H không còn tình cảm với ông nữa. Hiện ông còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn, ông mong muốn vợ chồng quay về chung sống đoàn tụ.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung đúng như lời trình bày của bà H. Khi ly hôn, ông giao cho vợ trực tiếp nuôi dưỡng con chung Tú Vy, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con Tú A. Hai bên không cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hiện 02 con chung đang ở với bà H. Ông đang làm thợ hồ thu nhập không ổn định, bình quân mỗi tháng 5.000.000 đồng, ông đang sống cùng cha ông, cha ông đi biển, mẹ ông hiện nay đã chết.
Tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung Chế Trần Tú A, Chế Trần Tú V; hai con có nguyện vọng tiếp tục ở với mẹ. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn có địa chỉ cư trú khu phố E, phường M, thành phố P - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T theo quy định tại Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa, Bị đơn tiếp tục vắng mặt dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Bị đơn.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Trần Thị Xuân H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Xuân H và ông Chế Kim P được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Tại phiên tòa, bà Trần Thị Xuân H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông Chế Kim P. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, kinh tế gia đình khó khăn, ông P gây nợ nhiều lần dẫn đến bất hòa giữa vợ chồng. Từ năm 2023, vợ chồng không còn sống chung, ly thân một thời gian dài, mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Quá trình tố tụng Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng đến nay tình trạng hôn nhân của ông bà vẫn không cải thiện được, cả hai tiếp tục ly thân. Ông P cũng xác định, bà H không còn tình cảm với ông. Điều này chứng tỏ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyên đơn bà Trần Thị Xuân H là phù hợp với Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về giao người trực tiếp nuôi con chung:
Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung Chế Trần Tú A, sinh ngày 18/8/2012, Chế Trần Tú V, sinh ngày 28/6/2016.
Bà H và ông P đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung.
Xét hai trẻ Tú A, Tú V đã trên 7 tuổi, cả hai đều có nguyện vọng tiếp tục ở với mẹ. Quá trình tố tụng, bà H, ông P đều xác định từ khi vợ chồng không còn sống chung cho đến nay, hai trẻ sống ổn định với mẹ, việc học tập và sức khỏe của các con đảm bảo, được bà H chăm sóc tốt, khỏe mạnh. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, xem xét đến nguyện vọng của 02 trẻ; Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con của Nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu nuôi con Chế Trần Tú V của Bị đơn là có căn cứ, phù hợp với Khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Xuân H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Trần Thị Xuân H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Xuân H được ly hôn ông Chế Kim P.
- Về giao người trực tiếp nuôi con:
Bà Trần Thị Xuân H được trực tiếp nuôi 02 con chung Chế Trần Tú A, sinh ngày 18/8/2012 và Chế Trần Tú V, sinh ngày 28/6/2016.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con chung; không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
- Về án phí: Bà Trần Thị Xuân H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002834 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T. Bà Trần Thị Xuân H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyên Vy |
Bản án số 91/2024/HNGĐ-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 91/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hậu phát
