|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 8 - 2024
“V/v Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Kim Thủy
Bà Đặng Hồng Luyến
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Minh Nhựt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1998(Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Ji D, sinh năm 1986 (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: D E-dong, Y-si, G-Do, Hàn Quốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Qua quen biết và tìm hiểu, bà Nguyễn Thị T đã tự nguyện đi đến hôn nhân với ông Ji D và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09, ngày 06 tháng 02 năm 2023. Sau khi kết hôn, ông Ji D trở về Hàn Quốc còn bà Nguyễn Thị T ở lại Việt Nam. Thời gian đầu vợ chồng bà vẫn sống vui vẻ, hạnh phúc. Tuy nhiên, càng về sau hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm ngày càng trầm trọng, hiện tại hai bên không còn liên lạc với nhau. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Ji D.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị T với ông Ji D không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T với ông Ji D không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu vắng mặt bà trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Ji D có văn bản trình bày ý kiến thể hiện: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị T về quan hệ hôn nhân cũng như con chung, tài sản chung và nợ chung. Trong cuộc sống hôn nhân ông bà không có hạnh phúc nên không thể duy trì cuộc sống hôn nhân. Nay bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn thì ông Ji D cũng đồng ý. Ông có đơn xin được vắng mặt trong tất cả các giai đoạn giải quyết của Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T thường trú tại huyện P, tỉnh Hậu Giang khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Ji D có quốc tịch Hàn Quốc. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Ji D có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Ji D đã có văn bản trình bày ý kiến về việc ly hôn với bà Nguyễn Thị T và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Xét thấy, nguyên đơn, bị đơn có lời trình bày đầy đủ, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giải quyết vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Ji D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang. Quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Ji D được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Sau khi kết hôn nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Hiện tại, bà Nguyễn Thị T và ông Ji D sống hai nơi khác nhau, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Nay bà Nguyễn Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông Ji D. Bị đơn ông Ji D đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị T và ông Ji D đã không còn cơ hội hàn gắn và đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Ji D.
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Ji D khai không có, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Ji D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[4] Về lệ phí ủy thác tư pháp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 35, 37, 147, 227, 228, 470, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 122, 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng các Điều 27, 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được ly hôn với bị đơn ông Ji D.
- Về con chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Ji D khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Ji D khai không có, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu số 0000213 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Về lệ phí ủy thác tư pháp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được nhận lại 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí ủy thác tư pháp theo Biên lai thu số 0000279 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Phượng |
Bản án số 91/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 91/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Người Việt nam ly hôn với người Hàn Quốc
