|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 91/2024/HNGĐ-PT
Ngày 14-8-2024
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trang.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tuấn,
Bà Nguyễn Hoàng Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2024/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do Bản án sơ thẩm số 618/2024/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4117/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Đặng Mạnh T, sinh năm 1975. (có mặt)
- Địa chỉ: E c/c T, Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1985. (có mặt)
- Địa chỉ: Số A đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Vũ Văn T1 – thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
- - Người kháng cáo: Bị đơn – bà Nguyễn Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 30/8/2023 và biên bản hòa giải tại Tòa án thì nguyên đơn ông Đặng Mạnh T trình bày:
Ông Đặng Mạnh T và bà Nguyễn Thị N đăng ký kết hôn ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 141. Ông và bà N sống hạnh phúc trong khoảng thời gian 4 năm.
Từ năm 2023 cho đến nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông đề nghị ly hôn với bà Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về tài sản riêng: Ông Đặng Mạnh T có 02 lần cho bà Nguyễn Thị N vay tiền để mua căn số 1 Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua biên nhận sao kê của Ngân hàng T2; lần 1 vào ngày 10/5/2022 với số tiền là 650.000.000₫ (Sáu trăm năm mươi triệu đồng); lần 2 vào ngày 19/5/2023 với số tiền là 1.885.000.000₫ (Một tỉ tám trăm tám mươi lăm triệu đồng). Tổng số tiền cho vay 02 lần là 2.535.000.000₫ (Hai tỉ năm trăm ba mươi lăm triệu đồng). Ông T yêu cầu bà Nguyễn Thị N hoàn trả lại toàn bộ số tiền trên, yêu cầu tính lãi suất tính từ lúc vay đến lúc xét xử. Tại phiên tòa nguyên đơn rút yêu cầu tính lãi suất.
Ông T khẳng định toàn bộ tài sản ông T có được hình thành giữa ông T và vợ cũ của ông T là bà Nguyễn Thị Lan P (đã mất). Ông T cũng khẳng định không nhập tài sản riêng của ông vào tài sản chung với bà Nguyễn Thị N.
Theo bản khai, biên bản hoà giải tại Tòa án thì bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà N thống nhất với lời khai của ông Đặng Mạnh T về quan hệ hôn nhân, con chung và mâu thuẫn của vợ chồng. Bà N đồng ý với yêu cầu ly hôn của ông T.
Ông T có gửi 1.885.000.000đ (một tỉ tám trăm tám mươi lăm triệu đồng) cho bà N để mua căn nhà số A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Còn số tiền 650.000.000₫ (sáu trăm năm mươi triệu đồng) ông T gửi bà Hoàng Y để thanh toán việc mua căn nhà trên với giá 3.650.000.000đ (ba tỉ sáu trăm năm mươi triệu đồng). Bà N xác nhận căn nhà số A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà, có văn bản thoả thuận tài sản riêng của vợ chồng, bà yêu cầu ông T trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, hợp đồng mua bán nhà, văn bản thoả thuận tài sản riêng, giấy tờ nộp thuế.
Bà N xác nhận ông T cho bà (cho bằng miệng, vì là vợ chồng) số tiền 1.885.000.000đ để thanh toán mua căn nhà.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 618/2024/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đặng Mạnh T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Mạnh T và bà Nguyễn Thị N thuận tình ly hôn.
- - Về con chung: Không có.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung, không có nợ chung.
- - Về tranh chấp tài sản riêng:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 2.405.000.000 ₫ (Hai tỉ bốn trăm lẻ năm triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền nguyên đơn cho bị đơn vay; lần 1 vào ngày 10/5/2022 với số tiền là 650.000.000₫ (Sáu trăm năm mươi triệu đồng); lần 2 vào ngày 19/5/2023 với số tiền là 1.885.000.000đ (Một tỉ tám trăm tám mươi lăm triệu đồng). Tổng số tiền cho vay 02 lần là 2.535.000.000đ (Hai tỉ năm trăm ba mươi lăm triệu đồng) đến thời điểm xét xử.
Thi hành 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực.
Ngay sau khi bị đơn trả số tiền cho nguyên đơn, nguyên đơn phải trả toàn bộ giấy tờ nhà đã giữ cho bị đơn, bao gồm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, hợp đồng mua bán nhà, văn bản thoả thuận tài sản riêng, giấy tờ nộp thuế đối với căn nhà số A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Kể từ khi nguyên đon có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa trả số tiền nêu trên thị bị đơn còn phải trả thêm tiền lãi theo điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền, thời gian chậm trả.
Ngoài ra, Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26/04/2024, bà Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo một phần đối với Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 618/2024/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 04 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, bà yêu cầu số tiền mà ông T yêu cầu bà trả lại là tài sản chung vợ chung, bà đồng ý trả ½ số tiền ông T yêu cầu. Về giấy tờ nhà thì yêu cầu ông T trả ngay tại tòa cho bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn trình bày: Không chấp nhận kháng cáo của bà N, ông yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn trình bày: Bà yêu cầu sửa bán án sơ thẩm, xác định 2 lần ông T chuyển khoản cho bà là tiền ông T tình nguyện cho, chứ không phải bà vay. Các khoản tiền đó xác định là tài sản chung vợ chồng có được trong thời kì hôn nhân, bà chỉ đồng ý trả lại ½ số tiền ông T đã chuyển khoản cho bà. Và bà yêu cầu ông T trả lại tại Tòa cho bà bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 5337/2009/GCN do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 23/11/2009; hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 9273 ngày 25/4/2022, giấy tờ nộp thuế đối với căn nhà số A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N trình bày: Ông T và bà N kết hôn năm 2019, toàn bộ số tiền ông T chuyển khoản cho bà N được xem là tài sản chung vợ chồng, bà N cũng có công sức đóng góp vào khối tài sản chung, bà N có công việc là bán bánh canh nên bà N thu nhập mỗi tháng là 15.000.000₫ – 20.000.000đ, bà lo chi tiêu trong gia đình. Theo bản án sơ thẩm, khoản tiền 650.000.000₫ mà bà N chỉ được chia có 1/5 là quá thiệt thòi cho bà N. Đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà N.
Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, và Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Không chấp nhận kháng cáo của bà N. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị N còn trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung: Theo đơn kháng cáo của bà N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào biên nhận sao kê của Ngân hàng T2 thể hiện ông Đặng Mạnh T có chuyển khoản 2 lần cho bà Nguyễn Thị N, cụ thể:
Lần 1: Ngày 10/5/2022 với số tiền là 650.000.000₫ (Sáu trăm năm mươi triệu đồng);
Lần 2: Ngày 19/5/2023 với số tiền là 1.885.000.000đ (Một tỉ tám trăm tám mươi lăm triệu đồng). Nội dung chuyển khoản ghi là: “cho bà N vay mua nhà 1 Đ, Phường A, quận B”.
Bà N cũng xác nhận 2 lần chuyển khoản số tiền trên là ông T tình nguyện cho bà, chứ không phải bà vay nhưng lại không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Khi bà thấy nội dung chuyển khoản ông T ghi là cho vay, bà hỏi thì ông T trả lời: “nếu ở với anh thì em được số tiến đấy, nếu em bỏ đi thì anh sẽ đòi lại hết”. Tại thời điểm ông T chuyển tiền cho bà N cũng đã thể hiện ý chí của ông T là cho bà vay chứ không phải ông T tình nguyện cho như lời trình bày của bà N. Do đó, việc bà N khai ông T tình nguyện cho bà tiền để mua nhà là không có căn cứ.
Đối với khoản tiền 1.885.000.000đ, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào bản kê giao dịch từ 10/5/2022 đến ngày 20/5/2022 và bản kê giao dịch từ 15/5/2023 đến 25/5/2023 nguồn gốc số tiền ông T chuyển khoản cho bà N như sau:
- Ngày 22/2/2018 ông T nộp 5 tỷ vào tài khoản của ông tại Ngân hàng P1.
- Ngày 24/2/2021 ông T tất toán số tiến nêu trên và chuyển 5 tỷ vào tài khoản của ngân hàng H để mua trái phiếu.
- Ngày 13/5/2022 ông T tất toán hợp đồng trái phiếu tại ngân hàng H và chuyển 5 tỷ vào tài khoản chứng khoán T2 và mua chứng khoán ACBS số tiền là 4.736.914.731₫.
- Ngày 19/5/2023 ông T bán chứng khoán ACBS và thu về số tiền là 3.671.005.126₫
- Ngày 19/5/2023 ông T chuyển khoản số tiền 1.885.000.000đ từ tài khoản chứng khoán T2 của ông cho bà N. Do đó, có cơ sở xác định số tiền 1.885.000.000₫ là tài sản riêng của ông T có trước thời kì hôn nhân với bà N. Còn bà N kháng cáo cho rằng đây là tài sản chung vợ chồng giữa bà và ông T là không có cơ sở chấp nhận, cấp phúc thẩm bác yêu cầu kháng cáo này của bà N.
Đối với khoản tiền 650.000.000đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Số tiền nay được chuyển khoản từ tài khoản chứng khoán của ông T cho bà N vay. Tuy nhiên ông T không cung cấp đây là tài sản riêng của ông T hình thành trước thời kì hôn nhân với bà N, nên được xem là tài sản chung vợ chồng, cấp sơ thẩm chia tài sản chung là có căn cứ. Xét về công sức đóng góp thì ông T đóng góp nhiều hơn bà N. Bà N khai bà có bán bánh canh thu nhập từ 15.000.000 – 20.000.000đ/tháng, số tiền này dùng để chi tiêu trong gia đình và phần còn dư thì để dành mua căn nhà 1 Đ, Phường A, quận B, việc đầu tư chứng khoán bà không biết và không có đóng góp công sức và tiền bạc cho mảng này. Do đó, cấp sơ thẩm chia theo tỷ lệ 1/5, ông T 4 phần, bà N 1 phần là phù hợp.
Đối với yêu cầu của bà N yêu cầu ông T trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 5337/2009/GCN do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 23/11/2009; hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhương quyền sử dụng đất số 9273 ngày 25/4/2022, giấy tờ nộp thuế đối với căn nhà số A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ. Tuy nhiên, bà N yêu cầu ông T phải thi hành việc trả giấy tờ tại Tòa là không có cơ sở, vì việc thi hành chỉ được thực hiện sau khi bản án có hiệu luật pháp luật và được thực hiện tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền, do đó không chấp nhận yêu cầu của bà N buộc ông T phải trả bản chính các giấy tờ ngay tại Tòa.
Từ những nhận định trên, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà N cũng như lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo là bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 148, Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Điều 33, Điều 40, Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Điều 494 của Bộ luật Dân sự 2015;
- - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đặng Mạnh T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Mạnh T và bà Nguyễn Thị N thuận tình ly hôn.
- - Về con chung: Không có.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung, không có nợ chung.
- - Về tranh chấp tài sản riêng:
Chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Mạnh T, buộc bà Nguyễn Thị N phải trả số tiền 2.405.000.000₫ (Hai tỷ bốn trăm lẻ năm triệu đồng) cho ông Đặng Mạnh T. Thi hành 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực.
Đình chỉ yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền là 2.535.000.000đ (Hai tỷ năm trăm ba mươi lăm triệu đồng) mà ông T cho bà N vay tính đến thời điểm xét xử.
Kể từ khi ông Đặng Mạnh T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị N vẫn chưa trả số tiền nêu trên thì bà N còn phải trả thêm tiền lãi theo Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền, thời gian chậm trả.
Ông Đặng Mạnh T trả lại cho bà Nguyễn Thị N các giấy tờ sau: Bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số: 5337/2009/GCN do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 23/11/2009; hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 9273 ngày 25/4/2022 đối với căn nhà số A Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí: Ông Đặng Mạnh T phải nộp tiền chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông đã nộp theo biên lai thu số 0028644 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T đã nộp đủ.
Ông Đặng Mạnh T phải chịu án phí 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã đóng theo Biên lai thu số 0028862 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi cấn trừ, ông T còn nhận lại 35.550.000 đồng (ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 80.100.000 đồng (tám mươi triệu một trăm ngàn đồng).
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0023728 ngày 08/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Trang |
Bản án số 91/2024/HNGĐ-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 91/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Đặng Mạnh T yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị N
