|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ H Bản án số: 91/2021/HS-ST Ngày 18/10/2021; |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T- THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu T
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đăng L; Bà Nguyễn Thị M;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh, Thư ký, Toà án nhân dân huyện T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Triệu Văn T - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2021; tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện T xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 93/2021/TLST – HS ngày 01 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hiền Th, sinh năm 1984; tại xã C, huyện H, thành phố H; nơi cư trú: Thôn 9, xã C, huyện H, Thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Hiền T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; Vợ: Nguyễn Thị H (đã ly hôn) con: 01 con sinh năm 2010; Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 16/01/2019 Công an huyện H, Thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 19/7/2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, Thành phố H; Danh chỉ bản số 217 do Công an huyện T lập ngày 27/7/2021. Có mặt.
2. Nguyễn Duy T, sinh năm 1993; tại xã C, huyện H, thành phố H; nơi cư trú: Thôn 9, xã C, huyện H, Thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Duy Giáp, sinh năm 1965 và bà Trần Thị Hồng, sinh năm 1969; Vợ, con: chưa có; Tiền án: 03 tiền án:
- Ngày 04/7/2012, TAND huyện Đ, TP H xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 38/2012/HSST. Hiện đã được xóa án tích.
- Ngày 27/9/2013, TAND huyện Như Xuân – tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ” tại bản án số 27/2013/HSST, ra tù ngày 03/10/2014. Hiện đã được xóa án tích.
- Ngày 04/10/2018, TAND huyện H – H xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 85/2018/HSST, ra tù ngày 20/01/2020. Hiện chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 19/7/2021 đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an Thành phố H; Danh chỉ bản số 218 do Công an huyện T lập ngày 27/7/2021. Có mặt.
* Bị hại: Bà Vũ Thị Nhung, sinh năm 1964; có mặt; Nơi cư trú: Thôn 4, xã H, huyện T, Thành phố H;
* Người làm chứng:
- Chị Phí Thị N, sinh năm 1980; vắng mặt; Trú tại: Thôn 1, xã H, huyện T, thành phố H;
- Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1982; vắng mặt; Trú tại: Thôn Tam Nông, xã D, huyện T, thành phố H;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/7/2021, Nguyễn Hiền Th, sinh năm 1984 ở thôn 9 xã C - H – Thành phố H điều khiển xe mô tô BKS: 29D1-160.15 chở Nguyễn Duy T, sinh năm 1993 ở thôn 9 xã C - H – Thành phố H ngồi sau kéo theo xe bò đi từ xã C - H – H đến xã H – T – H tìm tài sản sơ hở, không có người trông coi để trộm cắp. Trước khi đi, Th chuẩn bị 01 kìm cộng lực để làm công cụ đi trộm cắp tài sản. Khi đi qua cây xăng xã D – T, Th vào bảo nhân viên cây xăng cho gửi nhờ xe bò rồi tiếp tục chở T đi đến địa bàn xã H – T. Khi đến khu chợ xã H, Th và T thấy 01 chiếc xe lôi chở hàng quần áo, có phủ bạt phía trên của bà Vũ Thị Nhung (SN: 1964, trú tại: thôn 4, xã H, huyện T, TP H) để ở trong sân chợ, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe lôi cùng hàng hóa trên xe để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Th điều khiển xe đi lại gần chiếc xe lôi, T xuống xe cầm càng xe lôi móc vào đuôi xe mô tô BKS: 29D1-160.15. Sau đó, Th điều khiển xe chở T ngồi sau giữ, kéo chiếc xe lôi đi đến đường liên xã D – Hữu Bằng thì dừng lại. T ở lại trông coi tài sản trộm cắp được còn Th đi xe mô tô đến cây xăng xã D lấy xe bò đã gửi trước đó kéo đến địa điểm T đang chờ. T điều khiển xe mô tô BKS: 29D1-160.15 kéo xe bò về nhà cất còn Th ở lại trông giữ tài sản trộm được. Quá trình T kéo xe bò về nhà thì bị Công an xã H bắt giữ.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 29D1-160.15, màu sơn: Trắng đen, số khung: 114576, số máy: 114588.
- 01 (một) xe bò, 01 kìm cộng lực đã qua sử dụng.
- 01 xe lôi, trên xe lôi gồm có: 27 chiếc quần đùi vải nhãn hiệu “H-Tuyến”, 12 chiếc quần dài nhãn hiệu “PEAHEN”, 31 chiếc quần dài nhãn hiệu “FASHION”, 08 chiếc quần lỡ nhãn hiệu “ASOS”, 07 chiếc quần dài nhãn hiệu “HAPPY”, 12 chiếc quần dài nhãn hiệu “KADIJIAONA”, 04 chiếc quần dài nhãn hiệu “KAISHANSLIN”, 06 chiếc quần dài nhãn hiệu “OPAL”, 119 chiếc quần dài lanh, 12 chiếc áo ba lỗ nhãn hiệu “Thanh Phương”, 06 chiếc áo phông nhãn hiệu “HANOI VIETNAM”, 98 chiếc áo tân thời, 27 chiếc váy suông, 43 chiếc áo vải lanh, 84 bộ quần áo vải lanh, 173 chiếc áo vải lanh cho người già, 397 chiếc móc treo quần áo, 01 quạt điện nhãn hiệu Fugio đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐG ngày 20/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện T xác định tổng giá trị là 32.149.000đ. Tại bản kết luận định giá tài sản số 92/KL-HĐĐG ngày 09/9/2021 xác định chiếc xe lôi và quạt điện có giá trị là 645.000đ. Tổng trị giá tài sản mà Nguyễn Hiền Th và Nguyễn Duy T chiếm đoạt được là 32.794.000đ (ba mươi hai triệu bảy trăm chín mươi tư nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hiền Th và Nguyễn Duy T khai nhận do nghiện ma túy nên Th rủ T đi trộm cắp để lấy tiền mua ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 18/7/2021, Nguyễn Hiền Th và Nguyễn Duy T đã lén lút lấy trộm 01 xe lôi chở hàng quần áo các loại của bà Vũ Thị Nhung có tổng trị giá là 32.794.000đ. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hiền Th, Nguyễn Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Hiền Th 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2021.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Duy T 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2021.
|
Nơi nhận: - TAND thành phố H; - CA, VKSND, THA huyện T; - Bị cáo; bị hại; - UBND xã C, H; - Lưu HS, VP. |
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu T |
Bản án số 91/2021/HS-ST ngày 18/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 91/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/10/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hiền T và Nguyễn Duy T phạm tội trộm cắp tài sản
