Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Nguyễn Tiến Dũng.
  2. Bà: Đặng Thị Tiềm.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc - Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 16/6/1994, tại tỉnh Tiền Giang; Số căn cước công dân: [...]; Hộ khẩu thường trú: ấp 2, xã Thạnh Lộc, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú hiện nay: ấp 2, xã Thạnh Lộc, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1964 và bà: Nguyễn Thị L; Vợ: Nguyễn Trà V, sinh năm 1994 (đã ly hôn) và 01 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 12/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tuyên phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc theo bản án số 36/2021/HS-ST. Chấp hành xong ngày 06/11/2022; Về nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 16/12/2023 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 1980; (vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  3. Anh Phạm Minh T, sinh năm 1978; (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  5. Anh Huỳnh Văn N, sinh năm 2000; (vắng mặt)
  6. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  7. Anh Nguyễn Giang H, sinh năm 2001; (vắng mặt)
  8. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  9. Anh Châu Thanh Y, sinh năm 1995; (vắng mặt)
  10. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  11. Anh Phan Trần N, sinh năm 1987; (vắng mặt)
  12. Nơi cư trú: Ấp T, xã H, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  13. Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1997; (vắng mặt)
  14. Nơi cư trú: Ấp 1, xã C, huyện L, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1994, nơi cư trú: ấp 2, xã Thạnh Lộc, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, có 01 tiền án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích.

Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 17/10/2023, Đ cùng Nguyễn Tấn P (thường gọi Si), sinh năm 1980, nơi cư trú: ấp Kinh 12, xã Mỹ Phước Tây, thị xã Cai Lậy, đi đến nhà Phạm Minh T (thường gọi T ghẻ), sinh năm 1978, nơi cư trú: ấp Kinh 12, xã Mỹ Phước Tây, thị xã Cai Lậy thì gặp T, Huỳnh Văn N, sinh năm 2000, Nguyễn Giang H (thường gọi M), sinh năm 2001, Châu Thanh Y, sinh năm 1995, cùng cư trú, Phan Trần N, sinh năm 1987, nơi cư trú: ấp Tân Thạnh, xã Tân Hội, thị xã Cai Lậy, Nguyễn Hữu H, sinh năm 1997, nơi cư trú: ấp 6, xã Phú Cường, huyện Cai Lậy đang chơi lắc bầu cua ăn thua bằng tiền trên giường trong nhà của T, nên Đ, P cùng vào tham gia. Y làm cái, Đ chơi được hai ván mỗi ván 10.000 đồng; 01 ván thắng và 01 ván thua. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì lực lượng Công an đến lập biên bản sự việc.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 bộ bầu cua, 01 bộ dụng cụ để lắc bầu cua, tiền trên chiếu bạc 600.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng; Tiền Việt Nam: 2.550.000 đồng (thu giữ của Phạm Minh T)
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax; Tiền Việt Nam: 250.000 đồng (thu giữ của Nguyễn Giang H)
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu vàng tím than; Tiền Việt Nam 2.500.000 đồng (thu giữ của Huỳnh Văn N)
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300, màu trắng đen; Tiền Việt Nam 900.000 đồng (thu giữ của Châu Thanh Y)
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo; 01 điện thoại di động hiệu Motorola; Tiền Việt Nam: 400.000 đồng (thu giữ của Phan Trần N)
  • Tiền Việt Nam 1.100.000 đồng (thu giữ của Nguyễn Tấn P)
  • Tiền Việt Nam 400.000 đồng (thu giữ của Nguyễn Hữu H)
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh; Tiền Việt Nam 700.000 đồng (thu giữ của Nguyễn Tiến Đ)

Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy đã trả những vật chứng không liên quan đến vụ án:

  • Trả cho Phạm Minh T: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu trắng; Tiền Việt Nam: 2.550.000 đồng.
  • Trả cho Nguyễn Giang H: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax; Tịch thu sung quỹ số tiền Việt Nam: 250.000 đồng.
  • Trả cho Huỳnh Văn N: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu vàng tím than; Tiền Việt Nam 2.500.000 đồng.
  • Trả cho Phan Trần N: 01 điện thoại di động hiệu Oppo; 01 điện thoại di động hiệu Motorola; Tịch thu sung quỹ số tiền Việt Nam: 400.000 đồng.
  • Trả cho Nguyễn Tấn P: Tiền Việt Nam 1.100.000 đồng.
  • Tịch thu sung công quỹ tiền Việt Nam 400.000 đồng của Nguyễn Hữu H:

Riêng đối với: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300, màu trắng đen; Tiền Việt Nam 900.000 đồng thu giữ của Châu Thanh Y, do Y đã bỏ địa phương đi đâu không rõ nên xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, nên không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo lý do bị cáo là người đang trực tiếp nuôi con còn nhỏ.

Bản cáo trạng số 54/CT-VKSTXCL ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội đánh bạc. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội đánh bạc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 01 năm tù cho hưởng án treo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy đối với 01 bộ bầu cua, 01 bộ dụng cụ để lắc bầu cua. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 01 bì thư được niêm P, bên trong có 600.000 đồng, tiền Việt Nam (tiền thu giữ trên chiếu bạc). Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh và số tiền Việt Nam 700.000 đồng là tài sản của bị cáo Đ, không sử dụng vào việc phạm tội và hiện Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy đang tạm giữ, nên cần tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án về nghĩa vụ thi hành đối với bị cáo Đ theo nội dung phần quyết định của bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tấn P, anh Phạm Minh T, anh Huỳnh Văn N, anh Nguyễn Giang H, anh Châu Thanh Y, anh Phan Trần N, anh Nguyễn Hữu H. Xét thấy, trong hồ sơ đã có lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên và việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo Đ. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  3. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Tiến Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 17/10/2023 tại nhà Phạm Minh T thuộc Ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Nguyễn Tiến Đ có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc bầu cua được thắng thua bằng tiền, số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 600.000 đồng, nhưng do bị cáo Nguyễn Tiến Đ có 01 tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích nên bị cáo Đ pY chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đúng với kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.
  4. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo ý thức được rằng việc đánh bạc là một tệ nạn xã hội, bị nhà nước nghiệm cấm nếu ai vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm theo pháp luật. Tuy nhiên chỉ vì động cơ vụ lợi mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hành bi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra tội phạm, chính hành vi phạm tội của bị cáo là mầm móng làm phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo Đ thể hiện sự xem thường pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo Đ với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
  5. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng.
  6. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Đ có tình tiết giảm nhẹ là: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đ có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Đ có 0 cậu ruột là Liệt sĩ và 01 cậu ruột là người có công với cách mạng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  7. Về nhân thân: Bị cáo Đ có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo hiện là người đang nuôi 01 con còn nhỏ sinh năm 2016, bị cáo Đ tham gia chơi đánh bạc được hai ván mỗi ván 10.000 đồng, số tiền đánh bạc thu giữ trên chiếu bạc nhỏ chỉ có 600.000 đồng. Do vậy, cần xem xét chiếu cố phần nào mức hình phạt đối với bị cáo Đ và không cần pY cách ly bị cáo Đ ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt giúp ích cho xã hội sau này.
  8. Về xử lý vật chứng: Đối với 01(một) bộ bầu cua, 01(một) bộ dụng cụ để lắc bầu cua. Xét thấy, đây là công cụ thực hiện vào việc phạm tội và hiện không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền Việt Nam 600.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc được niêm P trong một bì thư. Xét thấy, số tiền 600.000 đồng dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Đối với số tiền Việt Nam 700.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ được niêm P trong một bì thư, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh. Xét đây là tài sản của bị cáo Đ, không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh; đối với với số tiền Việt Nam 700.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ được niêm P trong một bì thư và hiện Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy đang tạm giữ, nên cân tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án về nghĩa vụ thi hành đối với bị cáo Đ theo nội dung phần quyết định của bản án.
  9. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến Đ pY chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  10. Xét ý kiến và đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự:
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội đánh bạc.

    Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Xử: Phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Tiến Đ cho Ủy ban xã Thạnh Lộc, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó pY chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy đối với 01 bộ bầu cua, 01 bộ dụng cụ để lắc bầu cua.

    Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền Việt Nam 600.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc được niêm P trong một bì thư.

    Tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy tạm giữ đối với số tiền Việt Nam 700.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ được niêm P trong một bì thư, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, để đảm bảo việc thi hành án về nghĩa vụ thi hành đối với bị cáo Đ theo nội dung phần quyết định của bản án.

    (Vật chứng trên được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy lập ngày 04/9/2024)

  5. Về án phí:
  6. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Tiến Đ pY chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Áp dụng các điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pY thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thị xã Cai Lậy;
  • - Cơ quan điều tra CA thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG về tội đánh bạc

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đ phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger