Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 909/2024/DS-PT
Ngày 23 - 10 - 2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu tài sản trên đất và yêu
cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Hoàng Minh Thịnh
Các Thẩm phán:Ông Chung Văn Kết
Ông Vũ Đức Toàn
Thư ký phiên tòa:Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 536/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6498/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh B, sinh năm 1968. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Đường L, ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Nhật D, sinh năm 1979. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Tổ A, A, phường L, quận L, thành phố H.

- Bị đơn:

  1. Ông Huỳnh Thành L, sinh năm 1938. (chết ngày 09/6/2024)
  2. Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông L:

    • 1.1 Bà Lê Thị N, năm 1948. Vắng mặt – có đơn xin hoãn phiên tòa
    • 1.2 Bà Huỳnh Thị Thanh H, sinh năm 1964. Có mặt
    • 1.3 Bà Huỳnh Thị Thanh H1, sinh năm 1970. Vắng mặt
    • Cùng địa chỉ cư trú: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    • 1.4 Bà Huỳnh Thị Thanh H2, sinh năm 1966. (đã chết 24/5/2020)
    • Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H2:

      • 1.4.1 Bà Lê Thị N, sinh năm 1948.
      • Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt – có đơn xin hoãn phiên tòa)

      • 1.4.2 Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965. Vắng mặt
      • 1.4.3 Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1989. Vắng mặt
      • 1.4.4 Bà Nguyễn Huỳnh Trúc P, sinh năm 1997. Vắng mặt
      • Cùng địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  3. 2. Bà Lê Thị N, sinh năm 1948 (vắng mặt – có đơn xin hoãn phiên tòa)
  4. Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  5. 3. Ông Nguyễn Văn C8, sinh năm 1955. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  6. Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Thành L, sinh năm 1938 và bà Lê Thị N, sinh năm 1948.
  2. Cùng địa chỉ: ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    Ông Huỳnh Thành L chết ngày 09/6/2024.

    Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông L:

    • 1.1 Bà Lê Thị N, năm 1948. Vắng mặt – có đơn xin hoãn phiên tòa
    • 1.2 Bà Huỳnh Thị Thanh H, sinh năm 1964. Có mặt
    • 1.3 Bà Huỳnh Thị Thanh H1, sinh năm 1970. Vắng mặt
    • Cùng địa chỉ cư trú: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    • 1.4 Bà Huỳnh Thị Thanh H2, sinh năm 1966. (đã chết 24/5/2020).
    • Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H2:

      • 1.4.1 Bà Lê Thị N, năm 1948. Vắng mặt - có đơn xin hoãn phiên tòa
      • Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

      • 1.4.2 Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965. Vắng mặt
      • 1.4.3 Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1989. Vắng mặt
      • 1.4.4 Bà Nguyễn Huỳnh Trúc P, sinh năm 1997. Vắng mặt
      • Cùng địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  3. 2. Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1933, chết ngày 13/12/2019.
  4. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà N1:

    • 2.1 Ông Nguyễn Hữu H3, sinh năm 1953. Vắng mặt
    • 2.2 Ông Nguyễn Hữu H4, sinh năm 1953. Vắng mặt
    • 2.3 Bà Nguyễn Thị Mỹ L2, sinh năm 1966. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
    • 2.4 Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1977.
    • Người đại diện của ông H3, ông H4: Bà Nguyễn Thị Mỹ L2, sinh năm 1966, là người giám hộ cho ông H3, ông H4 do bị mất năng lực hành vi dân sự. Vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  5. 3. Bà Đổng Thị Huyền N2, sinh năm 1962. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  6. Địa chỉ: Ấp X, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  7. 4. Ông Đổng Văn P1, sinh năm 1959. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  8. 5. Bà Đổng Thị Ngọc T2, sinh năm 1964. Vắng mặt
  9. 6. Ông Nguyễn Phi H5, sinh năm 1972. Vắng mặt
  10. 7. Bà Nguyễn Thị Linh P2, sinh năm 1971. Vắng mặt
  11. Cùng địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  12. 8. Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1976. Vắng mặt
  13. Địa chỉ: 4 T, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

  14. 9. Bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1943. Vắng mặt
  15. Địa chỉ: Khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  16. 10. Bà Huỳnh Thị S1, sinh năm 1947. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  17. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

  18. 11. Ông Huỳnh Văn T3, sinh năm 1953. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  19. Địa chỉ: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  20. 12. Bà Huỳnh Thị Thanh H1, sinh năm 1970. Vắng mặt
  21. 13. Ông Lê Văn H6, sinh năm 1971. Vắng mặt
  22. 14. Bà Lê Huỳnh Thảo S2, sinh năm 2000. Vắng mặt
  23. 15. Cháu Lê Huỳnh Thảo V, sinh năm 2005. Vắng mặt
  24. Đại diện hợp pháp cho cháu V: Bà Huỳnh Thị Thanh H1 và ông Lê Văn H6.

    Cùng địa chỉ: Ấp V, xã L huyện N, tỉnh Đồng Nai

  25. 16. Bà Huỳnh Thị Thanh H, sinh năm 1964 (có mặt) và ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1964 (vắng mặt)
  26. Cùng địa chỉ: Ấp V, xã L huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  27. 17. Bà Huỳnh Thị Thanh H2, sinh năm 1966. (đã chết 24/5/2020)
  28. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H2:

    • 17.1 Ông Huỳnh Thành L, sinh năm 1938 (đã chết ngày 09/06/2024) và bà Lê Thị N, sinh năm 1948.
    • Cùng địa chỉ: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

    • 17.2 Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965. Vắng mặt
    • 17.3 Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1989. Vắng mặt
    • 17.4 Bà Nguyễn Huỳnh Trúc P, sinh năm 1997. Vắng mặt
    • Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  29. 18. Bà Trương Thị T4, sinh năm 1969. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  30. 19. Ông Huỳnh Thanh S3, sinh năm 1989. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  31. 20. Bà Huỳnh Thị Thùy D1, sinh năm 1998. Vắng mặt
  32. Cùng địa chỉ: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  33. 21. Ông Nguyễn Hoàng M. Vắng mặt
  34. 22. Ông Nguyễn Hoàng V1. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  35. 23. Ông Nguyễn Hoàng T5. Vắng mặt
  36. Cùng địa chỉ: Ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  37. 24. Bà Võ Thị N3, sinh năm 1959. Vắng mặt
  38. Địa chỉ: N tư đường Đ, đường L, ấp V, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  39. 25. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
  40. Địa chỉ: số E đường Đ, phường T, thành phố B, Đồng Nai.

    Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thành Đ – Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai huyện N. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt

  41. 26. Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  42. Địa chỉ: Khu T, tỉnh Đồng Nai.

- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Huỳnh Thanh B trình bày:

Tài sản tranh chấp có nguồn gốc của cụ Quảng V2 (là cha mẹ của cụ Nguyễn Thị P3) để lại cho cụ Nguyễn Thị P3. Đến ngày 08/01/1976, cụ Huỳnh Ngọc C và cụ Nguyễn Thị P3 (dưới đây gọi là cụ C và cụ P3) đã lập Tờ Tương phân (di chúc) đê chia tài sản cho các con và có 1 phần để lại cho cháu nội Huỳnh Thanh B là 01 ha đất ruộng và 02 ha đất rừng. Thời điểm này ông còn nhỏ nên cha mẹ ông là ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N thay mặt ông quản lý và đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ông trưởng thành cha mẹ ông (ông L, bà N) chưa bàn giao lại đất này cho ông, và cha mẹ ông vẫn đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý phần đất hương hỏa này. Quá trình sử dụng đất: Phần 1ha đất ruộng ông L và bà N đã cắt chia cho con gái là Huỳnh Thị H (có chồng Nguyễn Văn X - là con rể) 0,4 ha và bà Huỳnh Thị S - là em gái (0,6 ha) hiện phần đất 1 ha này đã bán cho nhiều người nên ông không tranh chấp trong vụ kiện này; tiếp đến liên quan đến 2ha đất rừng: ông L, bà N đã chuyển nhượng 22.484m² gồm các thửa 206, 531, 532, 533 tờ bản đồ 23 xã L gồm một phần do ông bà khai phá và một phần đất rừng hương hỏa (ước khoảng 6000 m²), với giá là 30 chỉ/1000m², tổng số vàng là 67 cây 4 chỉ 5 phân 2 ly. Việc ông L, bà N bán đất này, ông B hoàn toàn không biết và không có ký vào bất kỳ giấy tờ mua bán đất nào liên quan đến khu đất đã bán này. Chỉ đến khi bên mua đất là bà Võ Thị N3 tiến hành đổ đất làm đường đi, qua khu chuồng heo ông đang sử dụng, thì ông B mới chặn lại, khi đó bà N3 có điện cho ông Lê V3 việc ông B ngăn cản đổ đất làm đường, khi đó ông L đã gọi ông sang thương lượng và có cho ông 1 cây Vàng để đồng ý cho bà N3 tiếp tục đổ đất làm đường đi. Việc cho vàng này là vào khoảng đầu năm 2002, ông B xác định, phần 15 cây vàng này là tương ứng với khoảng 6000m² đất hương hỏa đã bán với mức giá khi đó, nên ông không tranh chấp phần đất thuộc các thửa trên.

Lúc còn nhỏ, ông sống chung với cha mẹ trên thửa đất số 154 có diện tích đất 3.856m², đến năm 1989 ông lập gia đình cất 01 căn nhà lá trên diện tích đất này. Từ năm 1999 đến năm 2001 ông L, bà N tiếp tục cắt chuyển nhượng diện tích đất 7m (chiều ngang) x 140m (chiều sâu) để mở đường đi vào trong thửa 206, đi qua căn nhà ông đang ở cho gia đình ông Nguyễn Hoàng T6, Nguyễn Hoàng V1 (ông không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng này). Vì vậy ông đã dỡ nhà đi và cất nhà cấp 4 sát vách nhà cha mẹ ở cho đến nay. Ông xác định một phần đất rừng ông được hưởng theo Tờ Tương phân nằm trong thửa 179 diện tích 5.147m² và thửa 154 diện tích 3.856m² tờ bản đồ 23. Tại thửa 154 có 1500m² đất thổ hạng 3 của ông Huỳnh Thành L được hưởng theo Tờ Tương phân.

Đối với một phần thửa đất 180, tờ bản đồ 23 (tài liệu mới là thửa 278, tờ bản đồ 44 có diện tích 3627.5m²) xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai: Nguồn gốc đất cũng như các thửa đất trên, năm 1976 gia đình cụ Nguyễn Văn T7 đến ở nhờ trên đất của cụ C, cụ P3. Năm 1996 cụ T7 cho con ông là vợ chồng ông Nguyễn Văn C8 và bà Nguyễn Thị Kim L4 sinh sống trên thửa đất. Đến ngày 17/4/1997, bà L4 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông B biết sự việc và xác định đây là một phần đất rừng ông được hưởng theo tờ tương phân, nên ông đã khởi kiện ông Nguyễn Văn C8, yêu cầu Tòa án giải quyết trả lại cho ông. Ông Huỳnh Thành L cũng tham gia khởi kiện độc lập ông Nguyễn Văn C8, tuy nhiên sau đó, ông L đã rút đơn khởi kiện và tham gia là người có nghĩa vụ liên quan. Cả phía ông B và Ông Lê Đ1 cho rằng, ông C8 chỉ được sử dụng phần đất còn lại của thửa 180 là khoảng 2400m2 trong tổng số hơn 6400m2 đất được cấp của thửa 180 tờ bản đồ số 23 (phù hợp với đơn xin giải quyết khiếu nại của cụ Nguyễn Văn T7 năm 1995, cụ xác định chỉ khai hoang diện tích 2400m2), phần còn lại khoảng 4200m2 (thực tế đo đạc sau khi trừ làm đường, diện tích còn lại là 3627.5m2 thuộc thửa 278 tờ số 44 hiện nay) đều xác định là đất có nguồn gốc từ cụ C, cụ P3 để lại. Phía ông B cho rằng đó là một phần đất rừng hương hỏa, nên yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên thuộc về ông. Trong quá trình giải quyết vụ án, Ủy ban nhân dân huyện N không xem xét hiện trạng mà cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L4 bao gồm cả diện tích đất của gia đình ông Lê K đúng. Quá trình khởi kiện ông C8 tại Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, Tòa án hai cấp đã tuyên án phần diện tích tranh chấp này trên cho ông L, bà N, nên ngày 29/02/2020 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 932703 cho ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N đối với thửa 278, tờ bản đồ 44, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Tại quyết định Giám đốc thẩm số 219/2020 ngày 28/9/2020 Tòa án nhân dân cấp cao đã tuyên hủy Bản án sơ thẩm và phúc thẩm. Vụ án được thụ lý và xét xử lại từ đầu tại Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ kiện này, ông Nguyễn Văn C8 đã có tường trình với Tòa, đồng ý trả lại phần đất này cho gia đình bên phía nguyên đơn, do ông cũng xác định đó là đất có nguồn gốc của cụ Huỳnh Ngọc C và cụ Nguyễn Thị P3 để lại. Vụ án khi đó chỉ còn tranh chấp xác định giữa ông B và ông L, bà N (do giấy chứng nhận đang mang tên ông L, bà N). Trước tình huống này, Tòa án ND huyện Nhơn Trạch đã có văn bản chuyển hồ sơ vụ án lên trên Tòa án Nhân dân tỉnh Đồng Nai, và ông B có đơn đề nghị xin chuyển và nhập hồ sơ vụ án. Đơn đã được Tòa án ND huyện Nhơn Trạch và Tòa án Nhân dân Tỉnh Đồng Nai chấp thuận, thụ lý chờ giải quyết.

Nay ông yêu cầu được công nhận quyền sử dụng diện tích 7,599.5m² gồm một phần diện tích các thửa: 18 (875m²), 72 (363m²), 90 (848.6m²), 93 (783.7m²), 94 (784.4m²), 95 (875.4m²), 133 (3,069.4m²) và 3,627.5m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 44 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 932703 ngày 29/02/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N đối với thửa 278, tờ bản đồ 44, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C581008 ngày 19/4/2007 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho bà Nguyễn Kim L4 đối với diện tích 4.074m² cắt thửa 180, tờ bản đồ 23, tọa lạc tại xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 35683 ngày 08/4/2005 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Huỳnh Thành L đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ 23, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L436226 ngày 04/5/1998 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Huỳnh Thành L đối với thửa 04, 79, 154, tờ 23 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Đối với yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Thành L và bà Lê Thị N ông không đồng ý.

Bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N thống nhất trình bày:

Ông B xác định năm 1976 ông C, bà P3 có làm tờ tương phân chia tài sản là nhà đất cho con cháu là đúng. Tuy nhiên, về nội dung phân chia cụ thể như sau: Ông C, bà P3 để lại cho ông Huỳnh Thành Lê R hạng 2 diện tích 01ha, thổ hạng 1 diện tích 0,35 ha, thổ hạng 3 diện tích 0,15ha. Còn phần ruộng hạng 2 còn lại là 01ha và 02ha đất rừng để làm hương hỏa, khi nào cha mẹ qua đời thì sẽ cho cháu nội Huỳnh Thanh B được hưởng. Tuy nhiên phần hạng 2 là 01 ha ông không nhận (vì Ủy ban nhân dân xã L cấp cho ông Nguyễn Văn X 04 công, còn lại 06 công bà Nguyễn Thị C1 canh tác). Khi ông C, bà P3 qua đời, ông B còn nhỏ nên ông L, bà N là cha mẹ được quyền quản lý số đất trên. Ngày 15/11/2000, ông Lê Đ2 Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng cộng 28.192m².

Quá trình quản lý sử dụng, ông Lê C2 đóng thuế từ năm 1992 đến năm 1997. Năm 2001, ông B đã đồng ý ký tên cho ông Lê chuyển N4 cho bà Võ Thị N3 diện tích 22.484m² (là phần đất rừng hương hỏa mà ông B được hưởng thể hiện tại biên bản về việc tranh chấp thừa kế của Ủy ban nhân dân xã L ngày 01/6/2001). Số tiền chuyển nhượng đất ông Lê G cho ông B 15 cây vàng và 10 triệu đồng, số tiền còn lại để xây mồ mả cho ông nội và cúng giỗ cho đến nay.

Năm 1975, ông L khai phá thêm thửa 179 có diện tích 5.147m² đất rừng thuộc tờ bản đồ 23 xã L, đến ngày 08/4/2005 ông L được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với diện tích đất 3.856m² thửa 154 tờ bản đồ 23 xã L, ông Lê Đ2 Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 04/5/1998 có một phần là 0,15ha ông Lê Đ2 cha mẹ chia cho và 01 phần do ông khai phá thêm. Trên diện tích đất này, hiện nay có căn nhà của ông L và nhà của ông B. Trong quá trình quản lý, sử dụng đất ông L, bà N còn tự ý cắt chia cho các con là bà H1 804m², bà H2 728m², bà H 724m², việc chia đất chỉ nói miệng, chưa làm thủ tục tách số. Ông L xác định thửa 154, 179 là của ông L khai phá, không phải đất hương hỏa ông B được hưởng theo Tờ tương phân. Mặt khác, Tờ tương phân ngày 08/01/1976, ông C chỉ hứa về già sẽ cho ông B còn tại thời điểm làm tờ tương phân không chia cho ông B.

Nay ông B yêu cầu được công nhận quyền sử dụng là một phần diện tích các thửa: 18 (875m²), 90 (848.6m²), 93 (783.7m²), 94 (784.4m²), 95 (875.4m²), 133 (3,069.4m²) và 3627.5m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 44 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 932703 ngày 29/02/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N đối với thửa 278, tờ bản đồ 44, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C581008 ngày 19/4/2007 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho bà Nguyễn Kim L4 đối với diện tích 4.074m² cắt thửa 180, tờ bản đồ 23, tọa lạc tại xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 35683 ngày 08/4/2005 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Huỳnh Thành L đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ 23, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L436226 ngày 04/5/1998 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Huỳnh Thành L đối với thửa 04, 79, 154, tờ 23 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Ông L, bà N không đồng ý với các yêu cầu trên chỉ trừ yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 581008 ngày 19/4/2007 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho bà Nguyễn Kim L4 đối với diện tích 4.074m² cắt thửa 180, tờ bản đồ 23, tọa lạc tại xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông L, bà N đã có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án công nhận diện tích đất 3627.5m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 44, xã L cho ông L, bà N và yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C581008 ngày 19/4/2007 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho bà Nguyễn Kim L4 đối với diện tích 4.074m² cắt thửa 180, tờ bản đồ 23, tọa lạc tại xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn ông Nguyễn Văn C8 trình bày:

Trước năm 1975, cha ông Lê là cụ Nguyễn Văn T7 (chết năm 2008) cùng ông và gia đình từ Bình Dương về Đồng Nai sinh sống; nơi đây là đất rừng hoang vu, cụ Huỳnh Ngọc C chỉ vị trí đất cho gia đình ông khai phá. Gia đình ông đã làm nhà, trồng cây và quản lý cho đến nay. Ngay thời điểm cụ C lập “Tờ tương phân”, đã xác định vị trí đất của cụ T7 sử dụng trong Tờ Tương phân.

Ông Huỳnh Thanh B khởi kiện căn cứ vào “Tờ tương phân”; trong đó, cụ C có vẽ phần diện tích đất cụ C được sở hữu là ruộng hạng hai năm mẫu chín, thổ hạng 1 là 07 sào, thổ hạng 3 là 04 sào, rừng 02 ha. Tâm nguyện của cụ C là tương phân cho tất cả các con phần ruộng hạng hai là 4 mẫu 9, thổ hạng 1, thổ hạng 3. Ngày 30/6/2014, ông B có Tờ tường trình về việc 02 ha rừng đang bị tranh chấp trong nội bộ gia đình; trong Tờ tường trình này, khẳng định có “Tờ tương phân” và có phần diện tích 02 ha rừng giao cho ông B được hưởng. Khi cha mẹ ông L qua đời, thì ông B còn nhỏ nên cha mẹ ông B là ông L và bà N sử dụng.

Ngày 15/11/2000, ông L và bà N được cấp Giấy chứng nhận. Năm 2001, ông L và bà N đã sang nhượng diện tích đất rừng này cho bà Võ Thị N3. Đồng thời, chính ông Lê C3 khẳng định, 02 ha rừng đã sang nhượng nằm trong “Tờ Tương phân”, thuộc thửa 23, tờ bản đồ 206, xã L; trong “Tờ tương phân”, phần sơ đồ có thể hiện phần đất của cụ Nguyễn Văn T7.

Về một số mộ ông B nêu, vào 1995, có xảy ra tranh chấp giữa cụ T7 và ông T3; thời điểm này, đã xác định phần mộ của gia đình ông Lê N5 trong diện tích đất 510m², thuộc thửa 314, tờ bản đồ 63, xã L. Thanh tra huyện N đã xác định cụ thể và ra quyết định hành chính, cắt diện tích đất 510m², nằm trong thửa 180, tờ bản đồ 23 cho gia tộc ông T3; thể hiện tại quyết định số: 93 ngày 28/02/1996 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N ký; nêu rõ phần diện tích còn lại là 6.900m² thuộc quyền sở hữu của cụ Nguyễn Văn T7 và giao cho Ủy ban nhân dân xã L thực hiện quyết định; do vậy, bà Nguyễn Thị Kim L4 (chết năm 2002) mới được cấp Giấy chứng nhận việc bà L4 kê khai quyền sử dụng đất là hoàn toàn hợp pháp. Phần đất bà L4 được cấp. Giấy chứng nhận, đối với diện tích đất 6.900m², thuộc thửa 180, tờ bản đồ số 23; trong đó, có 300m2 đất thổ cư và 6.600m2 đất vườn. Ông C8 khẳng định, đây không phải là diện tích đất rừng mà ông B đang khởi kiện; bởi vì, phần đất rừng mà ông L đã sang nhượng không liên quan gì đến thửa 180, tờ bản đồ số 23 mà gia đình ông C8 đang quản lý và sử dụng.

Ông C8 không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thanh B và không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Thành Lê .

Do vụ án đã được giải quyết lại bằng Bản án sơ thẩm và phúc thẩm, ngày 26/4/2022 ông C8 có văn bản ý kiến thể hiện “Ông đã xác nhận chuyển trả phần đất tranh chấp nêu trên trả cho ông Huỳnh Thành L đứng tên vì đất có nguồn gốc do cụ Huỳnh Ngọc C và cụ Nguyễn Thị P3 để lại. Ông đề nghị Tòa không triệu tập ông đến làm việc nữa”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị S1 trình bày:

Bà là con ruột của ông Huỳnh Ngọc C và bà Nguyễn Thị P3, lúc còn sống cha mẹ bà có làm “Tờ tương phân” chia di sản cho các con cháu trong nhà. Thửa đất 180 tờ bản đồ số 23 xã L có nguồn gốc do ông ngoại bà để lại cho cha mẹ bà quản lý sử dụng. Trên đất có khoảng 16 ngôi mộ của gia tộc, có mộ ông bà và mộ của con bà và bà con bà Huỳnh Thị N1.

Trước đây, gia đình ông Nguyễn Văn T7 (là cha của ông C8) không có đất ở nên cha mẹ bà đã cho ở nhờ. Trong Tờ tương phân cha mẹ bà có vẽ tượng trưng và ghi tên ông T7 để phân biệt rông chia đất chứ không phải cho đất ông T7, đất này do cha mẹ bà đang ở canh tác nên không chia trong Tờ tương phân. Ông Huỳnh Thành L và vợ là Lê Thị N canh tác đất từ lâu nhưng mãi đến khi cha mẹ bà qua đời mới để lại cho ông L, bà N sử dụng và chính thức là vào năm 1980.

Thửa 180 tờ 23 là đất của cha mẹ bà để lại và vợ chồng ông L, bà N thường xuyên chăm sóc mồ mả và canh tác trên phần đất còn lại của thửa đất này nên bà đề nghị Tòa án công nhận phần diện tích 4.0077 m² cắt thửa 180 tờ bản đồ số 23 cho ông L, bà N. Đất của cha mẹ bà đã chia cho ông em rõ ràng nên không ai tranh chấp. Cha mẹ bà có để lại đất hương hỏa cho ông B là con ruột ông Lê M1 phần đất rừng và đã bán, đó là thửa 206, tờ bản đồ số 23 (tờ 44 mới), còn phần đất mà gia đình ông T7 ở nhờ thì cha mẹ bà để lại cho ông L, bà N quản lý, sử dụng.

Đối với diện tích đất ông Huỳnh Thanh B khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Thành L và bà Lê Thị N phải trả lại thuộc thửa 179, 154, tờ bản đồ 23, xã L huyện N: Nguồn gốc đất thửa 179 là do ông L khai phá từ trước năm 1975, thửa 154 là do cha mẹ bà cụ C và cụ P3 cho ông Lê T8 Tờ Tương phân năm 1976. Vì vậy, việc ông L, bà N sử dụng quản lý hai thửa đất trên cũng như được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định. Toàn bộ phần đất ông B, ông L, bà N, ông C8 tranh chấp đều không liên quan đến bà nên bà không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà trong quá trình giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn T3 trình bày:

Ông Lê là con ruột của cụ Huỳnh Ngọc C và cụ Nguyễn Thị P3, lúc còn sống cha mẹ bà có làm “Tờ tương phân” chia di sản cho các con cháu trong nhà. Thửa đất 180 tờ bản đồ số 23 xã L có nguồn gốc do cụ C và cụ P3 để lại. Trên đất có khoảng 16 ngôi mộ của gia tộc.

Trước đây, gia đình ông Nguyễn Văn T7 (là cha của ông C8) không có đất ở nên cha mẹ ông đã cho ở nhờ. Trong Tờ Tươngcha mẹ ông có vẽ tượng trưng và ghi tên ông T7 để phân biệt chia đất chứ không phải cho đất ông T7, đất này do cha mẹ ông đang ở canh tác nên không chia trong Tờ tương phân. Ông Huỳnh Thành L và vợ là Lê Thị N canh tác đất từ lâu nhưng mãi đến khi cha mẹ ông qua đời mới để lại cho ông L, bà N sử dụng và chính thức là vào năm 1980.

Thửa 180 tờ 23 là đất của cha mẹ ông để lại và vợ chồng ông L, bà N thường xuyên chăm sóc mồ mả và canh tác trên phần đất còn lại của thửa đất này nên bà đề nghị Tòa án công nhận phần diện tích 4.0077m² cắt thửa 180 tờ bản đồ số 23 cho ông L, bà N. Đất của cha mẹ ông đã chia cho anh em rõ ràng nên không ai tranh chấp. Cha mẹ ông có để lại đất hương hỏa cho ông B là con ruột ông Lê M1 phần đất rừng và đã bán, đó là thửa 206 tờ bản đồ số 23 (tờ 44 mới), còn phần đất mà gia đình ông T7 ở nhờ thì cha mẹ để lại cho ông L, bà N quản lý, sử dụng.

Đối với diện tích đất ông Huỳnh Thanh B khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Thành L và bà Lê Thị N phải trả lại thuộc thửa 179, 154, tờ bản đồ 23, xã L huyện N: Nguồn gốc đất thửa 179 là do ông L khai phá từ trước năm 1975, thửa 154 là do cha mẹ bà cụ C và cụ P3 cho ông Lê T8 Tờ Tương phân năm 1976. Vì vậy, việc ông L, bà N sử dụng quản lý hai thửa đất trên cũng như được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định. Toàn bộ phần đất ông B, ông Lê bà N6, ông C8 tranh chấp đều không liên quan đến ông nên ông không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông trong quá trình giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đổng Thị Huyền N2, bà Đổng Thị Ngọc T2, ông Đồng Văn P1 và ông Nguyễn Phi H5 trình bày:

Các ông bà là con ruột của bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1935 (đã chết). Bà A là con ruột của cụ Huỳnh Ngọc C và cụ Nguyễn Thị P3. Phần đất thuộc thửa 180, 179, 54, tờ bản đồ 23, xã L, huyện N đang tranh chấp, các ông bà không tranh chấp gì và đồng ý để lại cho ông L và bà N6 quản lý và sử dụng. Do bận công việc, các ông bà xin được văng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Linh P2, bà Nguyễn Thị L3 không có ý kiến.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà N1: Ông Nguyễn Hữu H3, sinh năm 1953, ông Nguyễn Hữu H4, sinh năm 1953, bà Nguyễn Thị Mỹ L2, sinh năm 1966, ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1977 (Ông H3, ông H4 bị mất năng lực hành vi dân sự nên bà Nguyễn Thị Mỹ L2 là đại diện có ý kiến):

Phần đất thuộc thửa 180, 179, 54, tờ bản đồ 23, xã L, huyện N đang tranh chấp, các ông bà không tranh chấp gì, không liên quan gì đến các ông bà nên đề nghị Tòa án không triệu tập các ông bà lên làm việc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thanh H trình bày:

Bà là con ruột của ông L, bà N6. Do hoàn cảnh khó khăn nên vào năm 2001 bà được cha mẹ cho khoảng 724m² thửa 179, tờ bản đồ 23 (thửa mới 94b, tờ bản đồ 44) xã L. Vợ chồng bà đã xây dựng các công trình trên đất. Bà quản lý sử dụng cho đến nay nhưng cha mẹ vẫn đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa sang tên chuyển quyền.

Nay ông B yêu cầu ông L, bà N6 trả đất, trong đó có diện tích đất đã được cha mẹ cho nên bà không đồng ý với yêu cầu của ông B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn X trình bày:

Ông là chồng của bà H, diện tích đất 724m² thửa 179, tờ bản đồ 23 (thửa mới 94b, tờ bản đồ 44) xã L là do cha mẹ vợ ông cho bà H. Trên phần đất này ông đã xây dựng một số công trình, vợ chồng ông quản lý sử dụng cho đến nay.

Nay ông không tranh chấp gì đối với diện tích đất trên vì là tài sản riêng của bà H do cha mẹ cho, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này, bà H được toàn quyền quyết định. Do bận công việc nên ông xin được vắng mặt trong các buổi hòa giải, yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thanh H1 trình bày:

Bà là con ruột của ông L và bà N6. Vào năm 1999, bà lập gia đình nên được cha mẹ cho khoảng 804m² thửa 179, tờ bản đồ 23 (thửa mới 90b, tờ bản đồ 44) xã L. Trên phần đất này bà đã làm xây dựng một số công trình. Bà quản lý sử dụng cho đến nay nhưng cha mẹ vẫn đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa sang tên chuyển quyền.

Nay ông B yêu cầu ông L, bà N7 đất, trong đó có diện tích đất đã được cha mẹ cho nên bà không đồng ý với yêu cầu của ông B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn H6 trình bày:

Ông là chồng của bà H1, diện tích thửa 179, tờ bản đồ 23 (thửa mới 90b, tờ bản đồ 44) xã L là do cha mẹ vợ ông cho bà H1. Trên phần đất này ông đã xây dựng một số công trình, vợ chồng ông quản lý sử dụng cho đến nay.

Nay ông không tranh chấp gì đối với diện tích đất trên vì là tài sản riêng của bà H1 do cha mẹ cho, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này, bà H1 được toàn quyền quyết định. Do bận công việc nên ông xin được vắng mặt trong các buổi hòa giải, yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị T4 trình bày:

Bà là vợ của ông B bà thống nhất với ý kiến của ông B. Phần đất tranh chấp là tài sản riêng của ông B được cụ C, cụ P3 cho nên bà không có ý kiến gì. Bà xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Thanh S3, chị Huỳnh Thị Thùy D1 trình bày:

Các anh chị không có ý kiến hay yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N3 trình bày:

Vào năm 2000, bà có thỏa thuận để nhận chuyển nhượng phần diện tích đất ngang 7m dài 60m, tổng 420m², cắt thửa 154, tờ bản đồ 23, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai từ ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N với giá 49 chỉ vàng 24k chín tuổi sáu. Hai bên có lập giấy thỏa thuận chuyển nhượng đất thổ cư mặt tiền đường. Bà đã nhận đất và đã thanh toán đầy đủ cho gia đình ông L. Có các con của ông Lê L5 ông B, bà H2, bà H1, bà H chứng kiến và ký xác nhận. Đến ngày 7/8/2006 để có thể hoàn tất thủ tục ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà và ông Huỳnh Thành L cùng anh Nguyễn Hoàng V1 là em trai ruột của bà có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên bán là ông L, bên mua là anh V1 (bà mua nhưng để anh V1 đứng tên) được Ủy ban nhân dân xã L xác nhận. Trong hợp đồng thể hiện 510m² vì hai bên thỏa thuận để bên bà đứng tên luôn mương nước rộng khoảng 1m. Hiện nay anh V1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất này các bên cũng không có tranh chấp.

Năm 2001, bà có nhận chuyển nhượng hơn 22.000m² tọa lạc tại ấp V của ông Huỳnh Thành L là thửa 206. Hai bên có lập giấy nhận vàng đặt cọc đất rẫy. Do thửa đất này không có đường để đi vào nên hai bên thỏa thuận chuyển nhượng thêm một phần đất để bà làm con đường đi vào đất. Ranh giới đất chuyển nhượng là từ phần bà đã nhận chuyển nhượng năm 2000 (ngang 7m, dài 60m) kéo thẳng cho đến thửa 206. Tổng cộng từ tính từ đường 769 đến thửa 206 là khoảng 140m chiều dài, chiều ngang 7m. Giá chuyển nhượng là 67 cây 4 chỉ 5 phân 2 ly. Sau đó bà đã giao đủ tiền cho ông L. Vào khoảng năm 2002, bà tiến hành đổ đất trên vị trí đất bà mua thì ông B ngăn cản không cho đổ. Bà liên hệ ông L vì sao đất bà đã mua mà không cho bà đổ đất. Và ông Lê L6 đó đã thoả thuận với ông B và cho ông B 15 cây vàng nên ông B cho bà N3 tiếp tục đổ đường đi.

Đối với phần diện tích đất bà N, ông L đã bán cho bà và hiện nay đang có tranh chấp ở thửa 72, 90, 93, 94, 95, 133 thì bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Sau khi Tòa án giải quyết giao các thửa đất trên cho ai thì bà sẽ tự thương lượng với ông B hoặc bà N, ông L. Còn đối với phần đất mua vào năm 2000 các bên không tranh chấp và phía gia đình bà cũng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng M, Nguyễn Hoàng V1, Nguyễn Hoàng T5 thống nhất với lời trình bày của ông C8.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện N trình bày:

Về nguồn gốc sử dụng: Thửa 180, tờ bản đồ 23, xã L (bản đồ cũ) có diện tích 6.900m². Ngày 21/3/1996, bà Nguyễn Thị Kim L4 lập đơn xin cấp Giấy chứng nhận, nguồn gốc kê khai đăng ký: “Đất của cha Nguyễn Văn T7 khai phá năm 1975 cho lại con năm 1990”. Trên cơ sở kết quả xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất của Hội đồng xét duyệt cấp Giấy chứng nhận xã L thông qua và kiến nghị của Phòng Địa chính huyện N (nay là Phòng T16); ngày 19/4/1997, Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận số C 58109X đối với thửa đất trên cho bà L4.

Về vấn đề kiểm tra thực tế khi cấp Giấy chứng nhận: Đây là trường hợp cấp Giấy chứng nhận đồng loạt, việc đăng ký, kê khai cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo Sổ bộ địa chính và Bản đồ địa chính thành lập năm 1997. Ủy ban nhân dân huyện N không trực tiếp kiểm tra hiện trạng sử dụng của thửa180 khi cấp giấy. Theo quy trình cấp giấy đồng loạt, Hội đồng xét duyệt cấp giấy của địa phương xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất và đề nghị cấp trong trường hợp đủ điều kiện; đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra, đối soát ngoài thực địa các thửa đất đề nghị cấp giấy; trên cơ sở đó, Hội đồng xét duyệt cấp huyện căn cứ vào kết quả xét duyệt của cấp xã đã xác nhận về vị trí thửa đất, nguồn gốc sử dụng đất, để xét duyệt hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất. Qua kiểm tra hồ sơ, nhận thấy việc cấp giấy chứng nhận cho bà L4 là đúng trình tự và thủ tục theo quy định pháp luật.

Thửa 179 tờ bản đồ số 23 (cũ) xã L. Ngày 8/04/2005, Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 356483 do ông Huỳnh Thanh L7 và bà Lê Thị N đối với thửa 179, tờ bản đồ số 23 (cũ) xã L có diện tích 5147m².

Thửa 4, 79, 154 tờ bản đồ số 23 (cũ) xã L. Ngày 04/05/1998, Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 436226 cho ông Huỳnh Thanh L7 gồm thửa đất số 4 diện tích 4314m²; thửa đất số 79 diện tích 1670m²; thửa đất số 154 có diện tích 3856m² cùng thuộc tờ bản đồ số 23 (cũ) xã L.

Ngày 05/6/2005, ông Huỳnh Thành Lê L8 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị Huyền T9 đối với diện tích 1670m² thuộc thửa 79 tờ bản đồ số 23 (cũ) xã L, Hợp đồng chuyển nhượng được Ủy ban nhân dân xã L chứng thực ngày 15/6/2005. Ngày 2/8/2005, Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 830751 cho bà Huỳnh Thị Huyền T9.

Ngày 22/02/2012, bà Huỳnh Thị Huyền T9 xin lập thủ tục cấp đổi Giấy chứng quyền sử dụng đất thửa đất số 79 tờ bản đồ số 23 (cũ) xã L tương ứng thửa đất số 313 (tách thửa đất số 177) tờ bản đồ số 36 (mới) xã L có diện tích 1933m² và được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 516858 ngày 04/5/2012.

Ngày 07/6/2018, bà Huỳnh Thị Huyền T9 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Phan Thị T10 đối với diện tích 1933m² thuộc thửa đất số 313 tờ bản đồ số 36 (mới) xã L và được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 516858 ngày 04/5/2012.

Ngày 11/01/2019, bà Phan Thị T10 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Trọng T11 và ông Lê Văn V4 đối với diện tích 1933m² thuộc thửa đất số 313 tờ bản đồ số 36 (mới) xã L và được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 822963, CQ 822964 ngày 28/01/2019.

Ngày 30/10/2007, ông Huỳnh Thành Lê L8 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Công T12 đối với diện tích 4314m thuộc thửa đất số 04 tờ bản đồ số 23 (cũ) xã L và được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 713883 ngày 21/8/2008.

Ngày 03/7/2019, ông Huỳnh Công T12 lập thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4, 2, 3 tờ bản đồ số 23 (cũ), tương ứng thửa đất số 100 tờ bản đồ số 36 (mới) xã L với diện tích 4458m và được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 726292 ngày 25/7/2019.

Qua rà soát hồ sơ, nhận thấy Ủy ban nhân dân huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 356483 ngày 08/4/205 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 436226 ngày 04/5/1998 cho ông Huỳnh Thành Lê Đ3 với hồ sơ đăng ký do chủ sử dụng đất tự kê khai và trình tự theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ trình bày:

  1. Diễn biến vụ việc: Thửa đất số 180, diện tích 6900m2 tờ bản đồ số 23 xã L (theo hệ thống bản đồ địa chính cũ) được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 581098 cấp ngày 19/04/1997 cho bà Nguyễn Thị Kim L4.
  2. Đến tháng 12/2019, ông Huỳnh Thành L có lập thủ tục hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp biến động theo Bản án Tòa án) đối với thửa 278, diện tích 3627,5m2 tờ bản đồ số 44 xã L (theo hệ thống bản đồ địa chính mới) tương ứng một phần thửa đất số 180, tờ bản đồ số 23 xã L (theo hệ thống bản đồ địa chính cũ), theo kết quả giải quyết của Tòa án tại Bản án phúc thẩm số 154/2018/DS-PT ngày 24/09/2018 của Tòa án Nhân dân tỉnh Đồng Nai và Thông báo số 1404/TB-TA ngày 14/11/2019 của Tòa án Nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết đơn đề nghị Giám đốc thẩm. Đến ngày 31/12/2019, ông Huỳnh Thành L được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 076350 cho ông Huỳnh Thành L, thuộc thửa 278, diện tích 3627,5m2 tờ bản đồ số 44 xã L (theo hệ thống bản đồ địa chính mới).

    Tiếp tục, đến năm 2020, ông Huỳnh Thành L và vợ là bà Lê Thị N có lập thủ tục hồ sơ đề nghị cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới (lý do bổ sung tên vợ là bà Lê Thị N cùng đứng tên chung trong Giấy chứng nhận và điều chỉnh năm, số Chứng minh nhân dân của ông Lê T13 Giấy chứng nhận đã cấp) đối với thửa 278, tờđồ số 44 xã L nêu trên và được Sở T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 932703 ngày 29/02/2020 cho ông Huỳnh Thành L và bà Lê Thị N.

  3. Ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Huỳnh Thanh B:
  4. Việc phía nguyên đơn là ông Huỳnh Thanh B có yêu cầu Tòa án giải quyết Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 932703 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 29/02/2020 cho ông Huỳnh Thành L và bà Lê Thị N, thuộc thửa 278, diện tích 3627,5m² tờ bản đồ số 44 xã L, huyện N (theo hệ thống bản đồ địa chính mới). Về việc này, có ý kiến như sau:

    Căn cứ theo kết quả giải quyết của Tòa án tại Bản án phúc thẩm số 154/2018/DS-PT ngày 24/09/2018 của Tòa án Nhân dân tỉnh Đồng Nai và Thông báo số 1404/TB-TA ngày 14/11/2019 của Tòa án Nhân dân cấp cao tại TP . về việc giải quyết đơn đề nghị Giám đốc thẩm; Căn cứ Điều 37, Điều 76, Điều 84, khoản 3 Điều 86 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và khoản 4 Điều 95, khoản 4 Điều 98, khoản 1 Điều 99, khoản 3 Điều 100, Điều 105, khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 thì việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 076350 cấp ngày 31/12/2019 cho ông Huỳnh Thành L, sau đó cấp đổi lại thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CU 932703 ngày 29/02/2020 cho ông Huỳnh Thành L và bà Lê Thị N, thuộc thửa 278, diện tích 3627,5m2 tờ bản đồ số 44 xã L, huyện N là đúng theo quy định của pháp luật.

    Do đó, việc phía nguyên đơn là ông Huỳnh Thanh B có yêu cầu Tòa án giải quyết Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 932703 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 29/02/2020 cho ông Huỳnh Thành L và bà Lê Thị N, thuộc thửa 278, diện tích 3627,5m² tờ bản đồ số 44 xã L, huyện N nêu trên là không có cơ sở.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thanh B đối với ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N và ông Nguyễn Văn C8 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
    • 1.1. Công nhận cho ông Huỳnh Thanh B được quyền quản lý, quyền sử dụng đối với diện tích đất tại các thửa đất số 18, tờ bản đồ 44 diện tích 875m² được giới hạn bởi các mốc (e, d', d2, 16', 17', e); Thửa số 72 tờ bản đồ 44 diện tích 363m² được giới hạn bởi các mốc (d2, 16', 15', d3, d2); Thửa đất số 90, tờ bản đồ 44 diện tích 848.6m² được giới hạn bởi các mốc (14', 15',d3, c7, c8, h, k, 3d, 14'); Thửa đất số 93, tờ bản đồ 44, diện tích 783.7m² được giới hạn bởi các mốc (13', 14', 3d, 3c, 13'); Thửa đất 94, tờ bản đồ 44 có diện tích 784,4m², được giới hạn bởi các mốc (12', 13', 3c, 3b, 12'); Thửa 95, tờ bản đồ 44, có diện tích 875, 4m², được giới hạn bởi các mốc (11', 12', 3b, 3a, 11'); Thửa 133, tờ bản đồ 44, có diện tích có diện tích 3,069.4m² được giới hạn bởi các mốc (9',11', 3a, 3,4,5,6,7,8,9’) và 3,627.5m² cắt thửa 180, tờ bản đồ 23, tọa lạc tại xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai (cũ) nay là thửa 278, tờ bản đồ 44, xã L được giới hạn bởi các mốc (3a, 3b, 3c, 3d, k, m, n, y, p, r, w, q, a, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 1, 2, 3, 3a); Thửa đất số 96 tờ bản đồ số 44, có diện tích 77,8m² được giới hạn bởi các điêm (m1, m2, m3, m4, m5, ml).
    • Vị trí ranh giới các thửa đất được xác định theo Trích lục đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 972/2023 ngày 07/4/2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ.

    • 1.2. Tạm giao cho ông Huỳnh Thanh B có trách nhiệm quản lý, trông coi và tạo điều kiện cho dòng họ thăm nom, chăm sóc, thờ cúng khu mộ có diện tích 363m² được giới hạn tại các điểm (d2, d3, 15', 16', d2 ) tại thửa 72, tờ bản đồ số 44 và diện tích 77,8m² được giới hạn bởi các điểm (m1, m2, m3, m4, m5, m1) tại thửa là 96, tờ bản đồ 44 (nằm trong thửa 278 từ 44) xã L, huyện N, tinh Đ. Vị trí ranh giới đất được xác định theo Trích lục đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 972/2023 ngày 07/4/2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ
  2. 2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Huỳnh Thành L và bà Lê Thị N về việc “Công nhận diện tích 3.627.5m² cắt thửa 180, tờ bản đồ 23, tọa lạc tại xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai (cũ) nay là thửa 278, tờ bản đồ 44, xã L” được giới hạn bởi các mốc (3a, 3b, 3c, 3d, k, m, n, y, p, r, w, q, a, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 1, 2, 3, 3a) theo Trích lục đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 972/2023 ngày 07/4/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
  3. 3. Về tài sản trên đất:
    • 3.1. Buộc hộ bà Huỳnh Thị Thanh H và ông Nguyễn Văn X phải tháo dỡ 01 căn nhà ở có kết cấu trụ cột gỗ, xà gồ gỗ, mái tôn, vách gỗ, nền gạch bông diện tích 26,3m²; Chuồng gà có kết cấu, phần 1 diện tích 54m², trụ cột gỗ, xà gồ gỗ, mái tôn, tường bao, tường ngăn xây gạch dày 100mm, tô trát một phần cao 0,8m, vách ốp tôn một phần, nền bê tông xi măng, dưới nền đất tự nhiên đầm chặt, phần 2 có diện tích 54m² có kết cấu tương tự phần 1 (không mái, không vách và một phần tường bị đổ); Giếng khoan thủ công, thả ống nhựa P4 49mm, sâu 40m.
    • Ghi nhận sự tự nguyện của ông Huỳnh Thanh B hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn X và bà Huỳnh Thị Thanh H ½ giá trị tài sản khi tháo dỡ theo Chứng thư thẩm định giá 149/TĐG-BC ngày 16/5/2023 của Công ty cổ phần T17 36.625.500đ (ba mươi sáu triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn, năm trăm đồng).

    • 3.2. Buộc hộ bà Huỳnh Thị Thanh H1, ông Lê Văn H6 phải tháo dỡ: Chuồng gà 1 có kết cấu: Trụ cột gỗ, xà gồ gỗ, mái tôn, nền đất, tường bao, tường ngăn xây gạch dày 100mm, cao 0,8m trên khung gỗ, lưỡi théo (kích thước mỗi ngăn 0,8m x 1,5m &1,4m x 1,5m diện tích 200m²; Chuồng gà 2 có kết cấu: Phần 1 diện tích 59,2m², móng xây gạch, tường bao, tường ngăn xây gạch không tô trát cao 0,6m, trên khung thép rào lưới B40 cao 1,2m, trên che lưới chống nóng, phầndiện tích 27,5m², trụ cột gỗ, vách ốp tôn, vách lá dừa, tường ngăn xây gạch dày 100mm không tô trát cao 0,8m trên rào lưới B40, cửa khung gỗ bọc tôn; Nhà tôn có kết cấu: Trụ cột thép hộp 100x100mm, giằng trụ khung théhình ốp tôn một phần, xà gồ, vì kèo ghéo, mái tôn, nền láng vữa xi măng, dưới nền đấtnhiên đầm chặt diện tích 69,3m²; Nhà lá có kết cấu: Trụ cột gồ, xà gồ, vì kèo gỗ, vách, mái lá dừa, vách gỗ một phần, cửa đi bằng gỗ, nền láng vữa xi măng, dưới nền đất tự nhiên đầm chặt có diện tích 85m²; Giếng có kết cấu: Giếng khoan thủ công, thả ống nhựa P4 60mm, sâu 40m; Nhà tạm có kết cấu: Trụ cột gỗ, xà gồ, vì kèo gỗ, vách mái lá dừa, nền láng vữa xi măng, dưới nền đất tự nhiên đầm chặt diện tích 5m²; Tháp nước có kết cấu: Chân trụ 04 chân trụ, giằng trụ khung thép hình v5x5cm, cao 4,5m, bồn lít nước chứa inox dạng bồn nằm dung tích 1.000 lít; 01 bànthiên có kết cấu: Trụ xây gạch 200x200mm, tô trát, sơn nước cao 1,2m, trên kệ đan bê tông cốt thép dày 100mm, ốp gạch caremic phía trên, bục phía dưới xây gạch 400x400mm cao 0,4m, ốp gạch caremic phía trên.
    • Ghi nhận sự tự nguyệnông Huỳnh Thanh B hỗ trợ cho ông Lê Văn H6 và bà Huỳnh Thị Thanh H1 ½ giá trị tài sản khi tháo dỡ theo Chứngthẩm định giá 149/TĐG-BC ngày 16/5/2023 của Công ty cổ phần T17(một trăm sáu lăm triệu, tám trăm ba mươi tám nghìn, sáu trăm hai mươi năm đồng).

    • 3.3. Ông Huỳnh Thanh B được quyền quản lý và sử dụng 07 cây tràm đường kính gốc trung bình 500mm, cao khoảng 12m, cây đang phát triển bình thường tại thửa đất 278, tờ bản đồ 44, xã L, theo Chứng thư thẩm định giá 149/TĐG-BC ngày 16/5/2023 của Công ty T17. Ông B có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N10 của 07 cây tràm là 25.000.000 đồng (hai mươi năm triệu đồng).
  4. Về hủy Giấychứng nhận quyền sử dụng đất:
    • 4.1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 35683 ngày 08/4/2005 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Huỳnh Thành L đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ 23, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L436226 ngày 04/5/1998 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho ông Huỳnh Thành L đối với thửa 04, 79, 154, tờ 23 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
    • 4.2. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 581008 ngày 19/4/2007 của Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho bà Nguyễn Kim L4 đối với diện tích 4.074m² cắt thửa 180, tờ bản đồ 23, tọa lạc tại xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
    • 4.3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU932703 ngày 29/02/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N đối với thửa 278, tờ bản đồ 44, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
    • 4.4. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhànước có thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng đất, đồng thời phải chấp hành kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động đất đai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

    Giành quyền khở kiện cho ông Huỳnh Thanh B, bà Võ Thị N3 bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu đối với diện tích đất còn lại tại các thửa 72, 90, 93, 94, 95 và 133 tờ bản đồ số 44 xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

  5. Về chi phí tố tụng: Ông B tự nguyện chịu toàn bộ chi phí đo vẽ, xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản là 335.120.000 (đã nộp xong).
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 12 và Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • Ông Huỳnh Thành L và bà Lê Thị N, ông Nguyễn Văn C8 được miễn án phí dân sự sơ thẩm do ông L, bà N và ông C8 là người cao tuổi. Hoàn trả cho ông L và bà N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 7.084.750đ (bảy triệu không trăm tám bốn nghìn, bảy trăm năm mươi đồng) tại Biên lai thu số 003388 ngày 15/12/2014 Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.

      Ông Huỳnh Thanh B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông B số tiền tạm ứng đã nộp 7.500.000₫ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp lại Biên lai số 003389 ngày 15/12/2014 và số tiền tạm ứng án phí 18.759.200 đồng tại Biên lai thu số 00172 ngày 26/10/2012; số 001578 ngày 04/12/2015 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.

  7. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Thành L, bà Lê Thị N được miễn.
  8. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP(3), HS(2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 909/2024/DS-PT ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 909/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 18/2024/DS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger