Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 907/2024/HS-PT

Ngày 12/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Thắng;

Các Thẩm phán: Ông Ngô Quang Dũng;

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội: Ông Nguyễn Huy Hải, Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 649/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Phùng Khắc B, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2024/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phùng Khắc B, sinh năm 1977; nơi ĐKNKTT và nơi ở: Xóm A, thôn H, xã H, huyện Q, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Quang V (đã chết) và bà Đỗ Thị R; có vợ là Trương Thị L và có 03 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2017); nhân thân, tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thị Hải Y - Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Khắc B là nhân viên hợp đồng tại UBND xã H, huyện Q, thành phố Hà Nội đến năm 2019 thì nghỉ việc. B quen biết ông Đỗ Hữu V1 từ năm 2006 và biết ông V1 có thửa đất trồng chè tại xã H, huyện Q muốn chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở và đất vườn, từ đó B nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền nên B giới thiệu là có khả năng giúp ông V1 chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Vì tin tưởng nên ông V1 đã nhiều lần đưa tiền để nhờ B giúp chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho ông V1. Cụ thể:

- Ngày 26/12/2021, Phùng Khắc B hứa hẹn giúp ông V1 làm hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất trồng chè của gia đình ông V1 với khung giá nộp tiền vào kho bạc nhà nước như sau:

  • + Chuyển đổi đất trồng chè sang đất vườn: 98.000 đồng/m²;
  • + Chuyển đổi đất trồng chè sang đất thổ cư: 600.000 đồng/m2;

Phí dịch vụ các loại sẽ thu sau khi hoàn thiện và trả hồ sơ. Sau khi hoàn thành chuyển đổi, B sẽ giao cho ông V1 các giấy sau: Hóa đơn nộp tiền vào kho bạc Nhà nước; sơ đồ trích lục thửa đất đã được chuyển đổi từ Bản đồ Vilad của thành phố Hà Nội; một bộ hồ sơ đủ điều kiện đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do tin tưởng lời giới thiệu của B nên ông V1 đã đưa cho B 460.000.000 đồng và hồ sơ 3.120m² đất trồng chè tại xã H, huyện Q để nhờ B làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng sang 150m² đất ở và 2.970m² đất vườn. B nhận tiền và viết giấy biên nhận ghi rõ nội dung nhận tiền để chạy chuyển đổi sang đất vườn, đất ở.

- Sau đó, có 04 hộ gia đình là bạn bè, thân quen, biết ông V1 đang nhờ làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng chè nên cũng nhờ ông V1 giúp. Ông V1 hỏi B thì B đồng ý giúp. Các hộ gia đình này đã chuyển hồ sơ cùng tổng số tiền 1.850.000.000 đồng cho ông V1 để nhờ làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Ông V1 đã chuyển cho B tổng cộng 1.400.000.000 đồng, cụ thể:

  • + Bà Phạm Thị Lan A đã chuyển cho ông V1 800.000.000 đồng và 03 bộ hồ sơ nhờ xin chuyển đổi lần lượt các diện tích đất: 2.080m²; 2.001m²; 1.892m² đất trồng chè thành đất ở, đất vườn. Ngày 27/12/2021, ông V1 đã chuyển cho B 03 bộ hồ sơ trên của bà Lan A cùng số tiền 700.000.000 đồng. B nhận tiền và viết giấy biên nhận ghi rõ nội dung nhận tiền để chạy chuyển đổi sang đất vườn, đất ở.
  • + Ông Lê Đình Q đã chuyển cho ông V1 300.000.000 đồng và 01 bộ hồ sơ nhờ xin chuyển đổi 1.287,2m² đất trồng chè thành đất ở, đất vườn. Ngày 06/01/2022, ông V1 đã chuyển cho B 01 bộ hồ sơ cùng số tiền 200.000.000 đồng B nhận tiền và viết giấy biên nhận ghi rõ nội dung nhận tiền để chạy chuyển đổi sang đất vườn, đất ở.
  • + Ngày 14/01/2022, ông Trần Trung H đã chuyển cho ông V1 400.000.000 đồng và 01 bộ hồ sơ nhờ xin chuyển đổi 1.895,1m² đất trồng chè thành đất ở và đất vườn. Ông V1 đã chuyển cho B 01 bộ hồ sơ của ông H cùng số tiền 300.000.000 đồng. B nhận tiền và viết giấy biên nhận ghi rõ nội dung nhận tiền để chạy chuyển đổi sang đất vườn, đất ở.
  • + Ông Dương Văn C đã chuyển cho ông V1 350.000.000 đồng cùng 01 bộ hồ sơ nhờ xin chuyển đổi 2.484,5m² đất trồng chè thành đất ở và đất vườn. Ngày 13/01/2022, ông V1 đã chuyển cho B 01 bộ hồ sơ của ông C cùng số tiền 200.000.000 đồng. B nhận tiền và viết giấy biên nhận ghi rõ nội dung nhận tiền để chạy chuyển đổi sang đất vườn, đất ở.

- Tiếp đó, theo yêu cầu của B, ngày 14/6/2022, ông V1 chuyển thêm cho B 200.000.000 đồng để ứng vào chi phí làm các hồ sơ, giấy tờ chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho bạn ông V1. B nhận tiền và viết giấy biên nhận. Tổng số tiền B đã nhận của ông V1 là 2.060.000.000 đồng.

Sau khi nhận tiền, B không thực hiện bất cứ việc gì để xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất như đã hứa mà chiếm đoạt tiền của các bị hại để sử dụng chi tiêu cá nhân, cụ thể:

  • - B chuyển 500.000.000 triệu đồng cho anh Nguyễn Văn Đ để anh Đ chung tiền với anh Nguyễn Văn Đ1 mua thửa đất số 141, tờ bản đồ số 7 diện tích 635,9m² tại đội E, thôn H, xã H, huyện Q, Hà Nội; thửa đất đứng tên của anh Nguyễn Văn Đ1, anh Đ1 không biết trong số tiền 1.000.000.000 đồng anh Nguyễn Văn Đ đóng góp có số tiền 500.000.000 đồng của Phùng Khắc B (cơ quan CSĐT - C1 có Công văn số 9778/VPCQCSĐT ngày 16/10/2023 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ giao nộp số tiền 500.000.000 đồng là tiền vật chứng vụ án mà B đã chuyển cho ông Nguyễn Văn Đ, nhưng hiện nay ông Đ chưa giao nộp số tiền trên);
  • - Chuyển 1.200.000.000 đồng để trả nợ cho ông Nguyễn Văn M (cơ quan CSĐT - C1 có Công văn số 9779/VPCQCSĐT ngày 16/10/2023 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn M giao nộp số tiền 1.200.000.000 đồng là tiền vật chứng vụ án mà B đã chuyển cho ông Nguyễn Văn M, nhưng hiện nay ông M chưa giao nộp số tiền trên);
  • - Số tiền còn lại B đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi nhận tiền, B sử dụng máy tính cá nhân để tự chỉnh sửa, cắt ghép hình ảnh Biên lai nộp tiền thể hiện nội dung đã nộp tiền vào ngân sách Nhà nước để đăng ký làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất và gửi hình ảnh cho ông V1 để ông V1 yên tâm. Quá thời hạn theo như hứa hẹn, thấy B không giúp chuyển đổi được mục đích sử dụng đất theo như hứa hẹn, ông V1 đã nhiều lần yêu cầu B trả lại tiền tuy nhiên B trốn tránh không trả lại tiền.

Tháng 10/2022, ông Đỗ Hữu V1 có đơn tố cáo gửi Cơ quan CSĐT - Công an huyện Q, thành phố Hà Nội với nội dung tố cáo Phùng Khắc B có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn nhận tiền để làm dịch vụ hồ sơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng chè sang đất ở và đất vườn cho các cá nhân có nhu cầu, sau đó không thực hiện mà chiếm đoạt số tiền trên.

Kết quả xác minh tại UBND huyện Q, thành phố Hà Nội xác định: Đất trồng chè thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty Cổ phần C2; hiện nay chưa thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng chè sang đất ở, đất vườn cho bất kỳ hộ gia đình, cá nhân nào đối với đất chè tại xã H, huyện Q. Từ năm 2018 đến nay, không có trường hợp nào đăng ký chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng chè sang đất ở, đất vườn.

Cơ quan điều tra đã thu giữ, trưng cầu giám định 05 giấy Biên nhận tiền đứng tên Phùng Khắc B viết, ký tên đề các ngày 26/12/2022, 27/12/2021, 06/01/2022, 13/01/2022, 14/6/2022. Tại Bản kết luận giám định số 231/KL-KTHS ngày 15/02/2023, V2 - Bộ C3 đã kết luận:

  • + Các chữ từ dòng chữ viết thứ 01 đến dòng thứ 09 tính từ trên xuống trên mẫu cần giám định A1 (tờ giấy đề ngày 26/12/2022) so với chữ viết Đỗ Hữu V1 trên các mẫu so sánh M3, M4 do cùng một người viết ra.
  • + Chữ ký đứng tên Phùng Khắc B và các chữ từ dòng chữ viết thứ 10 đến dòng thứ 15 tính từ trên xuống trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 (tờ giấy đề ngày 26/12/2022); chữ ký, chữ viết đứng tên Phùng Khắc B trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A2 đến A5 (tờ giấy đề ngày 27/12/2021, 06/01/2022, 02 tờ giấy đề ngày 13/01/2022); chữ ký đứng tên Phùng Khắc B và các chữ từ dòng viết thứ 4 đến dòng thứ 10 tính từ trên xuống trên mẫu cần giám định A6 (tờ giấy đề ngày 14/6/2022) so với chữ ký, chữ viết của Phùng Khắc B trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người ký, viết ra.

Tại Cơ quan điều tra, Phùng Khắc B khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại như nội dung vụ án nêu trên.

Đối với hành vi sử dụng máy tính cá nhân để chỉnh sửa, cắt ghép hình ảnh Biên lai nộp tiền thể hiện nội dung B đã nộp tiền vào ngân sách nhà nước để đăng ký làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất và gửi ảnh cho ông V1. Cơ quan điều tra không thu giữ được máy tính cá nhân của B do máy tính hỏng, B đã bỏ đi. Hình ảnh Biên lai nộp tiền, B chỉnh sửa trên máy tính, sau đó chuyển thẳng cho ông V1, không in ra. Không đủ căn cứ xử lý đối với B về hành vi làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với ông Đỗ Hữu V1: Mặc dù ông V1 đã nhận của bà Phạm Thị Lan A 800.000.000 đồng, ông Trần Trung H 400.000.000 đồng, ông Lê Đình Q 300.000.000 đồng và ông Dương Văn C 350.000.000 đồng (tổng số tiền 1.850.000.000 đồng) để hứa hẹn nhờ người giúp chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Nhưng sau đó ông V1 đã chuyển cho B tổng số tiền 1.600.000.000 đồng, số tiền 250.000.000 đồng chưa chuyển do ông V1 thống nhất với B là xong việc sẽ chuyển nốt. Bản thân ông V1 cũng tin tưởng và chuyển 460.000.000 đồng cho B để nhờ B chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất của ông V1. Sau đó, ông V1 đã dùng tiền cá nhân tự trả lại cho bà Phạm Thị Lan A, ông Trần Trung H, ông Lê Đình Q, ông Dương Văn C toàn bộ số tiền. Bản thân ông V1 không được hưởng lợi gì từ sự việc trên, không bàn bạc, thỏa thuận gì với B. Hành vi của ông Đỗ Hữu V1 không cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Lan A, ông Trần Trung H, ông Lê Đình Q, ông Dương Văn C đã được ông V1 trả lại toàn bộ số tiền, không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.

Gia đình B đã khắc phục, trả cho ông V1 100.000.000 đồng. Ông V1 đề nghị B tiếp tục khắc phục, trả lại ông V1 1.960.000.000 và xử lý B theo quy định.

Bản cáo trạng số: 537/CT-VKS-P3 ngày 03/11/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phùng Khắc Bảo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2024/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017. Xử phạt: Phùng Khắc B 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/5/2024, bị cáo Phùng Khắc B có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phùng Khắc B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã mô tả, đồng thời xác định việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội nên chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo trình bày bản thân đã tác động gia đình vay mượn tiền để khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại, bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình, mong muốn được có cơ hội sớm trở về với gia đình, chăm sóc con cái, làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên toà phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ quy định của pháp luật. Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, hình thức, nội dung phù hợp nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  • - Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phùng Khắc B: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phùng K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật nhưng mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, do quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác; có bố đẻ là người có công với cách mạng; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giảm cho bị cáo một phần hình phạt từ 01 đến 02 năm tù.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên; các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s, v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt, để bị cáo sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình, làm người lương thiện, chăm sóc, nuôi dạy các con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Kháng cáo của bị cáo Phùng Khắc B trong thời hạn luật định và hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Phùng Khắc B tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp lệ, có đủ căn cứ kết luận:

Bị cáo Phùng Khắc B mặc dù không có khả năng và không có thẩm quyền trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng chè sang đất ở và đất vườn nhưng vẫn đưa ra thông tin gian dối giúp ông Đỗ Hữu V1 chuyển đổi mục đích sử dụng đất và dùng thủ đoạn gian dối chỉnh sửa, cắt ghép hình ảnh Biên lai nộp tiền thể hiện nội dung B đã nộp tiền vào ngân sách nhà nước để đăng ký làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất và gửi ảnh cho ông V1, làm ông V1 tin tưởng đưa tiền và giới thiệu người quen đưa tiền cho ông V1; từ đó, chuyển tiền cho bị cáo để làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho những người này. Sau khi nhận được tiền, bị cáo không thực hiện công việc đã hứa hẹn mà chi tiêu, sử dụng cá nhân hết. Tổng số tiền mà Phùng Khắc B đã nhận, chiếm đoạt của ông Đỗ Hữu V1 là 2.060.000.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Phùng Khắc B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phùng Khắc B, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây bức xúc trong dư luận nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, mặc dù bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình bị cáo đã xuất trình các bằng khen, giấy khen của Chủ tịch UBND tỉnh H, chứng nhận của Hội nông dân huyện Q, UBND huyện Q thể hiện bị cáo có thành tích trong sản xuất kinh doanh; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo có con còn nhỏ, mẹ già cần người chăm sóc, phụng dưỡng; vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Như vậy, xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc, xem xét tới các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, nhân thân của bị cáo, số tiền bị cáo chiếm đoạt, hậu quả của vụ án về cơ bản đã được khắc phục toàn bộ, bị cáo được bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt thì có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự, từ đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng, chính sách nhân đạo của pháp luật, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, trở về làm công dân có ích cho gia đình và xã hội, sớm thực hiện được trách nhiệm chăm sóc, nuôi dạy các con của bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm về việc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp quy định pháp luật, được chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Khắc B; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2024/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về hình phạt đối với bị cáo, cụ thể:

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Khắc B 10 (mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 21/02/2023.

  2. Về án phí: Bị cáo Phùng Khắc B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Hà Nội;
  • - TTG – Công an thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Lưu: P. HCTP, HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Anh Thắng

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 907/2024/HS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠAI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 907/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠAI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger