|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 907/2023/HSPT Ngày 29 tháng 11 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên
Các Thẩm phán: Ông Hà Huy Cầu
Ông Mai Xuân Thành
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 846/2023/HSPT ngày 24 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V, do Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2023/HSST ngày 9 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1496/2023/QĐPT-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Bị cáo Nguyễn Minh H, sinh năm 1991, tại tỉnh Tiền Giang; HKTT: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Văn T; Mẹ: Nguyễn Thị Mỹ L; Bị cáo có vợ Nguyễn Thanh Thúy A và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/8/2022, tạm giam ngày 26/8/2022; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh T. (có mặt)
- Bị cáo Nguyễn Quang Linh V, sinh năm 1978, tại tỉnh Tiền Giang; HKTT: Số B Khu C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha Nguyễn Quang H1 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị N (đã chết). Bị cáo sống như vợ chồng với: Lê Bảo L1 và có 02 con; Trần Phước B và có 02 con; Huỳnh Thanh T1 và có 01 con; Nguyễn Minh H là bị cáo trong cùng vụ án; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/8/2022, tạm giam ngày 26/8/2022; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh T; (có mặt)
Người bào chữa cho các bị cáo:
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh H: Bà Trần Thị Thùy T2 – Luật sư Văn phòng luật sư Trần Văn T3 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang Linh V: Ông Nguyễn Văn D – Tư vấn viên pháp luật – Thuộc Trung tâm tư vấn pháp luật Hội luật gia tỉnh T (có mặt)
(Ngoài ra trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác nhưng không kháng cáo, không liên quan kháng cáo, kháng nghị nên Tòa không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ, ngày 18/8/2022, tại Quốc lộ A thuộc ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp cùng Phòng C Công an tỉnh T và Công an xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang phát hiện xe ô tô 4 chỗ màu trắng biển kiểm soát 63A.20121 do Nguyễn Minh H đang điều khiển có biểu hiện nghi vấn nên chặn dừng xe kiểm tra;
Qua kiểm tra phát hiện phía dưới ghế ngồi bên trái (ghế tài xế) có một gói nylon được quấn lại bằng băng keo màu vàng bên trong có chứa chất tinh thể theo lời khai của Nguyễn Minh H là ma túy đá và được cho vào gói niêm phong dạng bao thư có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh H, Điều tra viên Trần Tấn Đ, người chứng kiến Nguyễn Minh N1, Phan Minh K và dấu mộc tròn màu đỏ của Công an xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
Thu giữ: Tiền Việt Nam 35.450.000 đồng trên người Nguyễn Minh H được cho vào gói niêm phong; 01 xe ô tô 4 chỗ màu trắng biển kiểm soát 63A 201.21; 01 điện thoại di động màu trắng loại máy Iphone X màu vàng, số IMEI: 359405086259171; 01 điện thoại di động màu xanh loại máy Iphone 13 Pro max, số IMEI: 353324655580402; 01 sợi dây bằng hợp kim vàng, gồm nhiều khoen, trên dây hợp kim vàng có gắn một miếng hợp kim vàng hình tượng phật; 01 vòng (dạng nhẫn) bằng hợp kim vàng; 01 vòng (dạng vòng đeo tay) bằng hợp kim vàng có nhiều khoen;
01 giấy chứng minh nhân dân số [...] tên Nguyễn Minh H;
04 gói (bịch) nylon màu trắng bên trong rỗng không chứa gì.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ các vật chứng sau:
2
Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà không số thuộc Tổ G, ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (Nguyễn Quang Linh V và H đang ở, nhà do Lê Bảo T4 - con gái của V đứng tên sở hữu) tang vật thu giữ gồm:
Thu giữ bên trong túi xách màu đen trắng (túi cá nhân của Nguyễn Quang Linh V) đang để trên giường ngủ phát hiện thu giữ gồm:
01 gói nilon màu trắng có viền màu đỏ có kích thước 7,5 x 04 cm bên trong có 08 viên nén màu hồng nghi vấn là chất ma túy cho vào gói niêm phong;
01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu vàng, số IMEI:354389064914178, mặt sau có chữ IMEI: 359241060142459;
01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max màu xám đen, số IMEI: 53895109320149;
Tiền Việt Nam 124.000.000 đồng được niêm phong.
Kiểm tra tại tủ bàn kích thước 100 x 50 x 64 cm phát hiện thu giữ tại hộc bàn ở giữa có kích thước 35 x 37 x 18 cm:
Thu giữ 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 16 x 10 cm bên trong có 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 16 x 10 cm bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng theo lời khai của H là chất ma túy được cho vào gói niêm phong dạng bao thư;
01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 18 x 12 cm có dán băng keo màu xanh bên trong có: 01 gói ni lon màu trắng có viền màu đỏ kích thước 11,5 x 7 cm bên trong có 08 viên nén màu nâu, 01 viên nén màu tím H khai là ma túy; 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 11,5 x 7 cm bên trong có nhiều chất tinh thể màu trắng H khai là ma túy; 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 7 x 6 cm bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng theo H khai là ma túy;
Tất cả được cho vào gói niêm phong dạng bao thư.
Trên kệ cạnh hộc bàn giữa có 01 hộp giấy cứng màu đen có nắp đậy có chữ Gucci bên trong được phát hiện thu giữ:
01 khẩu súng ngắn màu đen báng súng màu xanh, ổ trục xoay kích thước 19,5 x 13 cm được cho vào gói niêm phong;
Nhiều phụ tùng của súng được cho vào hộp giấy màu đen có nắp đậy có chữ Gucci niêm phong lại.
Thu giữ trong phòng:
01 điện thoại di động Oppo A15 màu xanh đen, số IMEI: 860466050963471;
01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max màu xám đen, số IMEI: 353896103100883;
01 gói nylon màu trắng viền màu đỏ bên trong có 50 gói nylon màu trắng viền màu đỏ và 10 gói nylon màu trắng viền màu xanh bên trong không chứa gì;
3
01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa màu trắng có nắp đậy màu vàng trên nắp có gắn một ống nhựa màu đỏ, trắng, tím và 01 ống thủy tinh màu trắng;
01 đầu thu camera màu đen có chữ HIK VISION.
Xe mô tô biển kiểm soát 63B1 – 161.55, nhãn hiệu SuZuki RGV 120, màu đỏ. Số khung: RU120U - A28552; Số máy: F124-128552.
Xe mô tô màu trắng Exciter 64D1 - 447.73 có số máy sau giám định: 55P1033717, số khung bị mài nhẵn không truy nguyên được (theo Kết luận giám định số 1080/KL-KTHS (Đ2) ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Phòng K1 Công an tỉnh T.)
Xe mô tô biển kiểm soát 50N1 – 929.59 màu xanh đen xám hiệu Yamaha Exciter. Số máy: 5P71017262; số khung: RLCE5P710AY017257.
Xe mô tô không có biển số kiểm soát, bị tháo rời 02 bánh, chỉ còn sườn và lóc máy. Số khung không rõ, có số máy 5C64 - 063978. (theo Kết luận giám định số 1080/KL-KTHS (Đ2) ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Phòng K1 Công an tỉnh T).
Khám xét tại nhà không số (Karaoke T) tại Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang do bị cáo Nguyễn Quang Linh V thuê. Tang vật thu giữ gồm:
Kiểm tra tại phòng ngủ của Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V phát hiện thu giữ gồm:
Tại kệ dưới của bàn kích thước 100 x 50 x 44 cm phát hiện thu giữ:
01 hộp kim loại bên trong có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet có dán băng keo màu xanh bên trong có 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 11 x 7 cm bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng theo lời khai của V và H đó là ma túy gói nilon chứa tinh thể nêu trên cho vào gói niêm phong dạng bao thư màu trắng;
01 sọt nhựa màu xanh bên trong có 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 18,5 x 12 cm bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng theo lời khai của V và H đó là ma túy, gói nilon chứa tinh thể nêu trên cho vào gói niêm phong dạng bao thư màu trắng;
01 ống thủy tinh màu trắng có đoạn uốn cong (nỏ); 02 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet có quấn băng keo màu xanh;
01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 bình thủy tinh có gắn ống hút nhựa màu cam và 01 ống thủy tinh màu trắng.
Tại tủ quần áo có kích thước 2 x 1.55 x 0.52 m phát hiện thu giữ ở cánh cửa thứ 3 từ trái sang bên trong tại kệ thứ 3 từ trên xuống phát hiện:
01 túi xách bằng giấy cứng có chữ Danisa, bên trong có 01 bịch nilon màu xanh có:
4
01 bịch nilon màu đen bên trong có: 01 cân điện tử kích thước 9 x 5,6 x 2,5 cm, màu đỏ trắng có chữ Marllono; 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 18.5 x 12 cm bên trong chứa 01 (một) gói nilon màu trắng viền màu đỏ chứa nhiều tinh thể màu trắng; 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 18 x 12 cm bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng; 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 11 x 7.5 cm bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng theo lời khai của V và H đó là ma túy;
01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 21 x 15 cm bên trong có: 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 15.5 x 9 cm bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng; 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 11 x 7 cm bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng; 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 7.5 x 4.5 cm bên trong chứa chất bột màu nâu; 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 7 x 4 cm bên trong chứa 02 viên nén màu xanh theo lời khai của V và H đó là ma túy;
01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 19 x 12 cm bên trong có: 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 19 x12 cm bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng; 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 13.5 x 8 cm bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng; 01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 11.5 x 7 cm bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng theo lời khai của V và H đó là ma túy; 01 gói nilon màu trắng kích thước 4 x 4 cm bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng theo lời khai của V và H đó là ma túy;
Tất cả các gói nilon chứa tinh thể, viên nén, chất bột nêu trên được cho vào hộp niêm phong.
01 túi giấy cứng màu trắng hoa văn màu đỏ có chữ yến sào cao cấp bên trong có 01 hộp giấy cứng màu trắng hoa văn màu đỏ có nắp đậy bên trong có:
01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 19 x 13 cm bên trong chứa tinh thể (chất bột) màu trắng theo lời khai của V và H đó là ma túy;
04 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 15.5 x 9 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng theo lời khai của V và H đó là ma túy;
01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 18 x 12 cm bên trong chứa 500 viên nén màu tím theo lời khai của V và H đó là ma túy;
01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 18 x 12 cm bên trong chứa 378 viên nén màu tím theo lời khai của V và H đó là ma túy;
01 gói nilon màu trắng viền màu đỏ kích thước 18 x 12 cm bên trong chứa 266 viên nén màu nâu theo lời khai của V và H đó là ma túy;
01 túi nilon màu vàng có nhiều hoa văn bên trong có 01 túi nilon màu trắng quấn băng keo màu xanh kích thước 25 x 15 x 7 cm bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy;
5
Tất cả các gói nilon chứa tinh thể, viên nén, chất bột nêu trên được cho vào hộp niêm phong.
Khi khám xét tại đây, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 túi xách bằng giấy cứng có chữ Danisa; 01 túi giấy cứng màu trắng, hoa văn màu đỏ có chữ “Yến sào cao cấp”; 01 camera màu trắng đen có chữ Cam ID: GGGG-051961AAFBB có gắn một thẻ nhớ có chữ Toshiba 16GB; 01 đầu thu camera màu đen có chữ VDTECH;
Xe mô tô loại VISION màu xám xanh có biển số kiểm soát 65L1-390.76, số máy: JK03E5208916, số khung: RLHJK0313MZ002670.
Khám xét tại nhà số B, tổ A, khu C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nhà của cha, mẹ V đã qua đời để lại), thu giữ gồm:
01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 chai nhựa có nắp màu trắng, trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh màu trắng và ống hút nhựa màu trắng cam; 01 bình gas mini có chữ Bluesky; 50 bịch nylon màu trắng viền màu đỏ bên trong không chứa gì.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01998 và tiến hành kê biên tài sản của thửa đất trên, diện tích 115,2m², thửa đất số 448, tờ bản đồ số 20. Địa chỉ: Ấp D, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang do Nguyễn Tấn S, sinh năm 1993. HKTT: Ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang chuyển nhượng cho bị cáo Nguyễn Quang L2 Vy ngày 19/8/2022.
Kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 22/8/2022 của phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận:
Gói 1 (ký hiệu 1): Các mẫu gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 50,6607 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu ký hiệu M1.1 có khối lượng 20,2295 gam, mẫu ký hiệu M1.2 có khối lượng 30,4312 gam);
Gói 2 (ký hiệu 3): Mẫu 08 (tám) viên nén màu hồng gửi giám định có tổng khối lượng 1,7180 gam. Kết quả phân tích trên hệ thống Sắc ký khí khối phổ cho sắc ký đồ trùng với chất ma túy Nimetazepam trong Thư viện phổ của hệ thống S1 ký khí khối phổ. Tuy nhiên, do Phòng K1 - Công an tỉnh T chưa được V1 - Bộ C1 cấp chất chuẩn ma túy Nimetazepam nên không khẳng định để kết luận. Yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T trưng cầu giám định tại Phân viện Khoa học hình sự thành phố H (Phòng K1 sử dụng giám định 02 viên, hoàn mẫu 06 viên).
Kết luận giám định số 4723/KL-KTHS ngày 23/9/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 kết luận: 06 viên nén màu hồng đựng trong 01 gói niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Nimetazepam. Về khối lượng đã được Phòng KTHS Công an tỉnh T trả lời trong bản Kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 22 tháng 8 năm 2022;
Gói 3 (ký hiệu 4): Các mẫu gửi giám định là ma túy, có khối lượng 98,5787 gam, loại Methamphetamine;
6
Gói 4 (ký hiệu 5): Các mẫu gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 44,8366 gam (trong đó: mẫu ký hiệu M4.1 có khối lượng 2,8186 gam, loại MDMA; mẫu ký hiệu M4.2 có khối lượng 0,4076 gam, loại MDMA; mẫu ký hiệu M4.3 có khối lượng 22,1715 gam, loại Ketamine, và mẫu ký hiệu M4.4 có khối lượng 19,4389 gam, loại Methamphetamine);
Gói 5 (ký hiệu 9): Các mẫu gửi giám định là ma túy, có khối lượng 8,0323 gam, loại Methamphetamine;
Gói 6 (ký hiệu 10): Các mẫu gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,6848 gam, loại Ketamine;
Gói 7 (ký hiệu 11): Các mẫu gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 567,5024 gam (trong đó: mẫu ký hiệu M7.1.1 có khối lượng 46,0696 gam, loại Ketamine; mẫu ký hiệu M7.1.2 có khối lượng 10,4823 gam, loại Ketamine; mẫu ký hiệu M7.1.3 có khối lượng 1,3659 gam, loại MDMA; mẫu ký hiệu M7.1.4 có khối lượng 1,0335 gam, loại MDMA; mẫu ký hiệu M7.2.1 có khối lượng 100,9056 gam, loại Methamphetamine; mẫu ký hiệu M7.2.2 có khối lượng 13,7455 gam, loại Methamphetamine; mẫu ký hiệu M7.2.3 có khối lượng 12,8806 gam, loại Methamphetamine, mẫu ký hiệu M7.2.4 có khối lượng 0,4039 gam, loại Methamphetamine; mẫu ký hiệu M7.3 có khối lượng 162,9079 gam, loại Methamphetamine; mẫu ký hiệu M7.4 có khối lượng 167,8215 gam, loại Methamphetamine, và mẫu ký hiệu M7,5 có khối lượng 49,8861 gam, loại Methamphetamine);
Gói 8 (ký hiệu 12): Các mẫu gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 1.831,9181 gam (trong đó: mẫu ký hiệu M8.1 có khối lượng 300 gam, loại Ketamine; mẫu ký hiệu M8.2 có khối lượng 338,8044 gam, loại Ketamine; mẫu ký hiệu M8.3 có khối lượng 197,8301 gam, loại MDMA; mẫu ký hiệu M8.4 có khối lượng 149,5362 gam, loại MDMA; mẫu ký hiệu M8.5 có khối lượng 96,1986 gam, loại MDMA; mẫu ký hiệu M8.6 có khối lượng 719 gam, loại Methamphetamine và mẫu ký hiệu M8.7 có khối lượng 30,5488 gam, loại Ketamine);
Tổng khối lượng 2.603,2136 gam gồm: 1.404,2617 gam Methamphetamine; 749,7614 gam Ketamine và 449, 1905 gam MDMA; 08 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 1, 7180 gam loại Nimetazepam.
Kết luận giám định số 4725/KL-KTHS ngày 12/9/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 kết luận:
Phát hiện và thu giữ được 01 dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định trên vỏ bao gói nylon màu trắng trong gói niêm phong có ký hiệu vụ số 88/6.2 gửi giám định (thu giữ trong sọt nhựa màu xanh kệ dưới của bàn tại phòng ngủ của V và H, quán K2). Dấu vết đường vân này với dấu vân tay ngón cái trái trên chỉ bản ghi họ tên Nguyễn Minh H, sinh năm 1991, nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (ký hiệu M1) là dấu vân tay của cùng một người.
7
Kết luận giám định số 899/KL-KTHS (Đ2) ngày 12/9/2022 của phòng K1 - Công an tỉnh T:
Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1 nguyên là súng đồ chơi nguy hiểm, bắn đạn bằng lực đẩy của khí nén. Hiện tại khẩu súng được gia công lại bộ phận nòng súng và buồng chứa đạn (ổ quay) để lắp được đạn cỡ 5.6 mm, tuy nhiên súng không bắn được đạn nổ do không có bộ phận kim hỏa. Khẩu súng nêu trên đã mất tính năng, tác dụng của vũ khí và không phải là vũ khí quân dụng;
Mẫu vật gửi giám định ký hiệu từ A2 đến A13 là linh kiện của súng và không phải là vũ khí quân dụng. Mẫu vật gửi giám định ký hiệu A14, A15 là vỏ đạn, đạn được dùng cho một số loại súng đồ chơi nguy hiểm dạng súng ổ quay và không phải là vũ khí quân dụng.
Kết luận giám định số 864/KL-KTHS ngày 21/10/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh T (liên quan đến dữ liệu camera đã thu giữ), kết luận:
Không tìm thấy dữ liệu tập tin video và hình ảnh liên quan đến vụ việc trong hai đầu ghi hình Camera gửi giám định nhãn hiệu HIKVISON và VDTECH;
Tìm thấy dữ liệu trong thẻ nhớ nhãn hiệu TOSIHIBA, dung lượng 16GB gửi giám định có 71 tập tin video với tổng dung lượng 1,38GB thể hiện trong khoảng thời gian ngày 13/8/2022, 15/8/2022, 16/8/2022, 17/8/2022. Cụ thể như sau:
Ngày 13/8/2022 có 17 tập tin video thể hiện khoảng thời gian từ 11 giờ 57 phút 05 giây đến 13 giờ 07 phút 41 giây, từ 21 giờ 52 phút 59 giây đến 23 giờ 33 phút 59 giây;
Ngày 15/8/2022 có 24 tập tin video thể hiện khoảng thời gian từ 12 giờ 57 phút 42 giây đến 17 giờ 03 phút 47 giây;
Ngày 16/8/2022 có 23 tập tin video thể hiện khoảng thời gian từ 13 giờ 07 phút 48 giây đến 17 giờ 00 phút 06 giây;
Ngày 17/8/2022 có 07 tập tin video thể hiện khoảng thời gian từ 21 giờ 52 phút 59 giây đến 23 giờ 03 phút 41 giây;
Trích xuất 01 tập tin video ghi màn hình điện thoại thể hiện hình ảnh và âm thanh khoảng thời gian từ 13 giờ 30 phút đến 14 giờ ngày 16/8/2022 (có nội dung V phân chia ma túy và giao ma túy cho 6 Đạt);
Không phát hiện dấu hiệu cắt, ghép nội dung trong 71 tập tin video đã tìm thấy trong thẻ nhớ nhãn hiệu TOSIHIBA gửi giám định.
Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V sống chung như vợ chồng từ năm 2017 nhưng không có đăng ký kết hôn. Cả hai sống tại nhà không số thuộc Tổ G, ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Quán K2 thuộc ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (do V thuê) và nhà số B, tổ A, khu C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Năm 2020, H và V bắt đầu mua ma túy đem về phân chia, cất giấu tại nơi ở và bán lại cho các đối tượng nghiện để lấy lợi nhuận. Cụ thể việc mua bán và vai trò của từng bị cáo như sau:
8
Đối với bị cáo Nguyễn Minh H:
Nguyễn Minh H là đối tượng sử dụng ma túy, để có lợi nhuận tiêu xài cá nhân, H bắt đầu cùng với V mua bán trái phép chất ma túy từ năm 2020, vốn ban đầu khoảng trên 10 triệu đồng, H là người đến thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy đem về bán lại cho các đối tượng nghiện, lợi nhuận do bán ma túy có được H đưa cho V cất giữ dùng vào việc tiêu xài cá nhân và sử dụng làm vốn để tiếp tục mua số lượng ma túy ngày càng nhiều hơn.
Về nguồn mua ma túy và giá mua, bán: Nguyễn Minh H trực tiếp đến thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy đá (Methamphetamine) của hai người nam tên H2 và T5, giá 01 lạng (100g) trả tiền từ 25.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng; ma túy khay (ketamine) 01 lạng (100g) giá tiền 70.000.000 đồng và thuốc lắc (MDMA) mua của hai người nữ tên N2 và L3 01 bịch 500 viên với giá tiền 140.000 đồng/viên (các đối tượng bán nêu trên không biết họ tên, địa chỉ cụ thể). Ma túy khi mua về được phân chia bán lại 36.000.000 đồng/lạng đối với ma túy đá; ma túy khây 90.000.000đồng/lạng; thuốc lắc 180.000 đồng/viên.
Về tài khoản giao dịch mua, bán ma túy: Khi mua ma túy thì Nguyễn Minh H được người bán chỉ định chuyển tiền vào các tài khoản sau đây để thanh toán, gồm: Tài khoản tên Lê H3, tài khoản có tên Lương Thúc P và tài khoản tên Trần Thị T6. Sau đó, Nguyễn Minh H yêu cầu Nguyễn Quang L2 V lấy tiền lời bán ma túy trước đó do V quản lý để chuyển vào các tài khoản nêu trên để thanh toán tiền mua ma túy. Cụ thể:
Kết quả điều tra từ năm 2020 đến khi bị phát hiện: Nguyễn Quang Linh V đã sử dụng tài khoản của V chuyển vào tài khoản của Lê H3 tổng cộng là 270.000.000 đồng, chuyển vào tài khoản đứng tên Lương Thúc P tổng cộng 1.840.000.000 đồng và chuyển vào tài khoản đứng tên Trần Thị T6 là 152.000.000 đồng.
Địa điểm phân chia, cất giữ và bán ma túy: Nguyễn Minh H là người trực tiếp đi nhận ma túy đem về và test thử ma túy khi mua. H là người phân chia và cất giữ trong phòng ngủ của V và H ở quán K2 tại ấp E, xã P, huyện C, sau đó có đem về cất giữ tại nơi ở xã L khoảng 01 - 02 lạng để khi người mua liên hệ lúc đang ở đây thì lấy bán.
Đối với số ma túy đã thu giữ khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp: Số ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang và khám xét là do Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V mua của H3 01 kg ma túy giá 270.000.000 đồng vào tháng 8/2022, số ma túy đá còn lại mua nhiều lần của người tên T5 cách ngày bị bắt khoảng 15 - 30 ngày, thuốc lắc và ma túy khây mua của người tên L3 cách ngày bị bắt khoảng 01 tháng.
Về cách thức giao ma túy: Khi có người cần mua ma túy thì gọi điện thoại cho H hoặc nếu liên hệ với V thì V nói lại H để H đem ma túy bán; H trực tiếp nghe điện thoại thì lấy ma túy đi bán cho đối tượng mua.
9
Quá trình điều tra, đủ căn cứ xác định Nguyễn Minh H đã trực tiếp bán ma túy cho các đối tượng sau:
Bán ma túy cho Võ Lý B1, sinh năm 2001, cư trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang tổng cộng 03 lần, một lần một bịch ma túy khây và 01 viên thuốc lắc giá 1,5 triệu đồng, 2 lần mỗi lần một bịch ma túy khây giá 4,5 triệu đồng;
Bán ma túy cho Phan Văn T7 (tên thường gọi T7 đại úy), sinh năm 1987, cư trú: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang 04 lần vào khoảng tháng 4 năm 2022. Lần đầu 01 hộp 5 (5 gam) ma túy khay (ketamine) và 04 viên thuốc lắc giá tiền 4.000.000 đồng; 03 lần sau, mỗi lần 1/2 hộp ma túy khây (hộp 5) và 3 viên kẹo thuốc lắc giá tiền mỗi lần 2.000.000 đồng;
Lê Hoàng P1 (tên thường gọi 2 Nhiễu) sinh năm 1998, cư trú: số D, Khu B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. P1 liên hệ với V mua ma túy 02 lần vào khoảng tháng 7 năm 2022, mỗi lần hỏi mua ½ hộp 5 và 03 viên thuốc lắc giá 3.100.000 đồng (lần 1 cách lần 2 khoảng 01 tuần), sau đó V nói lại cho H giao ma túy cho P1 tại quán K2;
Bán ma túy cho Nguyễn Tấn Đ1 (tên thường gọi 6 Đ1) 01 lần, 10 gam ma túy đá (được thể hiện trên đoạn video do camera ghi lại vào ngày 16/8/2022 – bán cùng với V);
Bán ma túy cho Hồ Trúc Q (tên thường gọi ba gà) cư trú: Số B đường T, Phường D, thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào tháng 8/2022, khoảng 3 lần, mỗi lần một bịch ma túy khây (50 số khoảng 50 gam) giá từ 4 - 4,5 triệu đồng/bịch và 10 viên thuốc lắc giá 2 triệu đồng (200.000 đồng/1 viên thuốc lắc), cách 07 – 10 ngày mua 01 lần;
Ngoài ra Nguyễn Minh H khai còn bán cho các đối tượng khác không rõ họ tên địa chỉ cụ thể, nên cơ quan điều tra không thể xác minh. Ngày 18/8/2022 Nguyễn Minh H điều khiển xe mô tô bên trong có cất ma túy với mục đích khi có người liên hệ mua để bán, trên đường đi bị công an bắt quả tang.
Đối với bị cáo Nguyễn Quang Linh V:
Nguyễn Quang Linh V biết Nguyễn Minh H mua bán trái phép chất ma túy. Số tiền H bán ma túy giữ lại một ít để tiêu xài cá nhân, số tiền còn lại H đưa cho V cất giữ. Khi H thỏa thuận mua ma túy thì V là người sử dụng điện thoại di động của V để thực hiện chuyển khoản trả tiền mua ma túy. Khi H mua ma túy không đạt chất lượng thì V có nhắn tin trao đổi với đối tượng Lê H3 để trả lại ma túy. Ngoài ra ngày 16/8/2022, V thừa nhận có phân chia ma túy cất giữ trong tủ quần áo tại phòng ngủ của quán K2 bán cho Nguyễn Tấn Đ1 (tên thường gọi 6 Đ1) (100 số = 10 gam – đã được Camera ghi lại).
Lời khai của Nguyễn Quang Linh V phù hợp với các tài liệu chứng cứ Cơ quan điều tra đã thu thập để chứng minh vai trò của bị cáo V, cụ thể như sau:
Qua tra cứu tài khoản ngân hàng S2 (số T: 070109294185) của Nguyễn Quang Linh V thì trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 đến ngày 18/8/2022
10
V đã chuyển tiền cho các tài khoản để mua ma túy, đều có nội dung “chi vy tg; vy tg ck; vy tg” gồm:
Tài khoản 8888555188888 do Lương Thúc P mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M) tổng cộng 18 lần với số tiền 1.840.000.000 đồng (một tỷ tám trăm bốn mươi triệu đồng);
Tài khoản 0906919377 do Lê Hoàng m tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) tổng cộng 02 lần với số tiền 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng);
Tài khoản 169613109 do Huỳnh Thị T8 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V3 (V4) tổng cộng 03 lần với số tiền 152.000.000 đồng (một trăm năm mươi hai triệu đồng).
Qua hình ảnh được trích xuất khi tiến hành kiểm tra điện thoại di động hiệu OPPO của của Nguyễn Quang Linh V sử dụng có nhiều hình ảnh thể hiện nội dung trao đổi giữa tài khoản Zalo “Linh Vy” với “H3 tp” có nội dung mua bán trái phép chất ma túy, các giao dịch chuyển tiền, ma túy kém chất lượng, yêu cầu đổi trả ma túy; về giá mua bán ma túy. Thông tin trao đổi thể hiện nội dung “chị Vy Tiền G”.
Dữ liệu camera đã thu giữ tại phòng ngủ của V và H tại karaoke Tài P2 được trích xuất hình ảnh thể hiện: V đang thực hiện hành vi phân chia, cất giữ và mua bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Tấn Đ1 (6 Đạt). Nội dung hình ảnh camera đã được bị cáo V và H xác nhận V là người phân chia, cất giữ và bán ma túy cho 6 Đ1.
Lời khai Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V:
Lời khai sau khi bị bắt giữ của bị cáo Nguyễn Quang Linh V và bị cáo Nguyễn Minh H thừa nhận cùng thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ năm 2020. Ngoài lời khai của V và H, Cơ quan điều tra tiến hành đối chất đối tượng mua ma túy do V bán gồm: Phan Văn T7 và Lê Hoàng P1. Đồng thời cho nhận dạng hình ảnh của Lê H3 là người bán ma túy tại thành phố Hồ Chí Minh và V là người nhắn tin trao đổi qua Z với H3 do ma túy của Hoàng kém chất lượng. V thừa nhận cùng với H thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Cụ thể ngày 16/8/2022, V trực tiếp phân ma túy và giao ma túy cho 6 Đ1 tại phòng ngủ của quán K2 (có hình ảnh camera ghi lại).
Tài liệu xác minh đối với giao dịch chuyển khoản cho các đối tượng bán ma túy và nhân thân đối tượng bán ma túy.
Đối với đối tượng tên H3, có số tài khoản 0906919377 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2). Qua xác minh có tên Lê H3, sinh năm 1987, cư trú: Số H đường N, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra hiện đang tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
11
Đối với người nữ tên L3 sử dụng số tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (M) số 8888555188888 để giao dịch bán ma túy cho H. Qua điều tra, xác định chủ tài khoản tên là Lương Thúc P, sinh năm 1998, cư trú: Xóm G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Lương Thúc P đã đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản từ năm 2019, không rõ người đang sử dụng tài khoản, hiện nay không có mặt ở địa phương nên không triệu tập làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh thông tin, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với người nữ tên N2 sử dụng số tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần V3 (V4) số [...] để giao dịch bán ma túy cho H. Kết quả trích lục tại ngân hàng M xác định chủ tài khoản là Huỳnh Thị T8, sinh năm 1978, cư trú: Số G đường Đ, Phường A, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh. Huỳnh Thị T8 khai nhận có kinh doanh cửa hàng điện thoại di động tại thành phố Hồ Chí Minh và nhận chuyển tiền qua tài khoản giúp cho người khác, khách chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của T8 sau đó T8 sẽ đưa lại tiền mặt để nhận tiền phí hoa hồng (tiền công). T8 không nhớ những người này và cũng không biết mục đích những người này chuyển tiền để làm gì, chỉ nhận tiền công nên chưa đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Huỳnh Thị T8.
Đối với người nam tên T5 bán ma túy cho H tại quận G, thành phố Hồ Chí Minh do không có thông tin về họ tên, địa chỉ cụ thể nên không tiến hành xác minh, ghi lời khai được, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra, mặc dù Nguyễn Quang Linh V chỉ thừa nhận trực tiếp có bán ma túy cho Nguyễn Tấn Đ1 (tên thường gọi 6 Đ1) vào ngày 16/8/2022 đã được Camera ghi lại. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra đủ căn cứ xác định Nguyễn Quang Linh V còn trực tiếp bán ma túy cho các đối tượng sau:
Bán ma túy cho Phan Văn T7 (tên thường gọi T7 đại úy), sinh năm 1987, cư trú: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang 04 lần vào khoảng tháng 4 năm 2022. Lần đầu 01 hộp 5 (5 gam) ma túy khay (ketamine) và 04 viên thuốc lắc giá tiền 4.000.000 đồng; 03 lần sau, mỗi lần 1/2 hộp ma túy khây (hộp 5) và 3 viên kẹo thuốc lắc giá tiền mỗi lần 2.000.000 đồng;
Bán ma túy cho Phạm Huân Đ2 (tên thường gọi Cọc khè), sinh năm 1997, cư trú: số B Tổ A, Khu D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang, khoảng tháng 02 năm 2022, cách 05 – 07 ngày mua 01 lần (tổng cộng khoảng 30 lần) tại quán K2, mỗi lần một gói ma túy đá giá từ 200.000 đồng đến 05 triệu đồng;
Lê Hoàng P1 (tên thường gọi 2 Nhiễu) sinh năm 1998, cư trú: số D, Khu B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. P1 liên hệ với V mua ma túy 02 lần vào khoảng tháng 7 năm 2022, mỗi lần hỏi mua ½ hộp 5 và 03 viên thuốc lắc giá 3.100.000 đồng (lần 1 cách lần 2 khoảng 01 tuần), sau đó V nói lại cho H giao ma túy cho P1 tại quán K2.
Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V:
12
Quá trình khám xét, thu giữ 08 viên nén màu hồng có khối lượng 1,7180 gam là chất ma túy loại Nimetazepan. H khai mua của một người tên H4 (không rõ họ tên địa chỉ cụ thể), trước khi bị bắt khoảng 6-7 tháng với giá 500.000 đồng/viên (mua tổng cộng 10 viên giá 5 triệu đồng), đưa cho V cất giữ, sau đó H lấy 02 viên để sử dụng, còn lại 08 viên Vy tiếp tục cất giữ trong túi xách cá nhân cho đến khi bị bắt. H và V đều xác định 08 viên chứa chất ma túy trên cất giữ không nhằm mục đích mua bán mà để H sử dụng;
Bản cáo trạng số 16/CT-VKSTG-P2 ngày 18 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2023/HSST ngày 9 tháng 9 năm 2023
của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Quang Linh V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 40; Điều 50; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình;
Phạt bị cáo Nguyễn Minh H số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 40; Điều 50; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang Linh V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Quang Linh V phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình;
Phạt bị cáo Nguyễn Quang L2 Vy số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 18/9/2023, bị cáo Nguyễn Minh H và bị cáo Nguyễn Quang Linh V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
13
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Toà sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang Linh V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Quang Linh V phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình; là có căn cứ. Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có thêm tình tiết gì mới, do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ y bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh H tranh luận: Thống nhất với tội danh bị cáo nhưng hình phạt có phần nghiêm khắc, bị cáo ăn năn hối cải, bị cáo còn phải nuôi hai con nhỏ, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang L2 Vy tranh luận: Thống nhất về tội danh đối với bị cáo nhưng bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, còn phải nuôi 05 người con, bị cáo V phạm tội với vai trò đồng phạm cùng bị cáo H, do bị cáo H rủ rê nên bị cáo mới phạm tội, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư và của các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V.
- [1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đã có đủ cơ sở xác định:
Từ năm 2020 đến khi bị phát hiện (ngày 18/8/2022) Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V đã nhiều lần mua ma túy tại Thành phố Hồ Chí Minh đem về phân chia, bán lại cho các đối tượng nghiện trên địa bàn các huyện: Cai Lậy, thị xã C... Tổng số tiền các bị cáo chuyển khoản mua ma túy Cơ quan điều tra đã chứng minh được là 2.262.000.000 đồng. Đối với ma túy đá mua với giá 270.000.000 đồng/kg bán lại giá 360.000.000 đồng/kg, thu lợi 90.000.000 đồng; ma túy khay mua 700.000.000 đồng/kg, bán lại 900.000.000 đồng/kg, thu lợi 200.000.000 đồng/kg và thuốc lắc mua 01 bịch 500 viên giá 70.000.000
14
đồng/bịch, bán lại 90.000.000 đồng/bịch, thu lợi 20.000.000 đồng/bịch. Tuy nhiên, quá trình điều tra các bị cáo khai không nhớ cụ thể tổng số tiền thu lợi bất chính;
Ngày 18/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh T tiến hành bắt, khám xét trên xe ô tô và tại các nơi ở của Nguyễn Quang Linh V và Nguyễn Minh H thu giữ tổng cộng 2.603,2136 gam ma túy các loại gồm: 1.404,2617 gam, loại Methamphetamine; 449,1905 gam loại MDMA; 749,7614 gam loại Ketamine.
Số lượng ma túy trên bị cáo H và bị cáo V tàng trữ để bán lại cho các đối tượng nghiện nhằm mục đích thu lợi bất chính vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm pháp luật của các bị cáo.
Với hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Quang Linh V đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- [3] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Quang Linh V:
Đây là vụ án đồng phạm có tổ chức, vai trò của các bị cáo như sau:
Bị cáo Nguyễn Minh H giữ vai trò chính trong vụ án là người chủ mưu, khởi xướng việc mua bán ma túy, trực tiếp liên hệ mua ma túy, kiểm tra và nhận ma túy của các đối tượng bán tại Thành phố Hồ Chí Minh đem về tỉnh Tiền Giang từ năm 2020 đến khi bị bắt giữ ngày 18/8/2022; phân chia ma túy, cất giữ tại nơi ở. Khi có người mua liên hệ, bị cáo H trực tiếp bán ma túy cho các đối tượng lấy tiền đưa cho Nguyễn Quang L2 Vy cất giữ;
Bị cáo Nguyễn Quang Linh V giữ vai trò đồng phạm tích cực, giúp sức cho bị cáo H việc mua ma túy và là người thực hành trực tiếp bán ma túy cho đối tượng nghiện. Cụ thể: Bị cáo V quản lý tiền mua, bán ma túy; Khi bị cáo H mua ma túy thì bị cáo V sử dụng tài khoản của bị cáo V chuyển tiền thanh toán cho người bán ma túy. Ngoài ra, bị cáo V còn thỏa thuận, thương lượng chất lượng, giá mua ma túy khi cần. Đối với số ma túy mua về, bị cáo Nguyễn Quang L2 Vy sử dụng nhà do mình quản lý để cất giữ, phân chia và trực tiếp bán lại cho đối tượng nghiện.
Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Quang Linh V là đặc biệt nghiêm trọng. Việc mua bán ma túy của các bị cáo đã thực hiện nhiều năm trên địa bàn thị xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
Các bị cáo vì lợi nhuận nên đã thực hiện hành vi mua ma túy về bán lại cho các đối tượng sử dụng ma túy nhằm kiếm lợi nhuận từ nguồn thu nhập bất chính để làm nguồn sinh sống, bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật;
Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quy định về quản lý các chất gây nghiện, ma túy của Nhà nước. Hành vi các bị cáo không những làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội mà còn là mầm mống lây truyền bệnh tật cho nhiều người
15
trong xã hội. Mặt khác, người nghiện ma túy sẽ dễ bị thoái hóa về nhân cách, rối loạn về hành vi, có lối sống buông thả, còn là tiềm ẩn phát sinh các loại tội phạm khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, làm cho gia đình lo sợ và nhân dân bất bình lên án. Vì thế, cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với các bị cáo là cần thiết, nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo, phòng ngừa chung cho xã hội và đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.
Khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm cũng có xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của các bị cáo như:
Các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Quang Linh V có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tổ chức” và “phạm tội hai lần trở lên” được quy định điểm a, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Quang Linh V ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; các bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Như vậy, với nhân thân, các tình tiết tăng nặng và khối lượng ma tuý như nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V mức án cao nhất, lọai bỏ các bị cáo khỏi đời sống xã hội là thoả đáng.
- [4] Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới đặc biệt. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- [6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của của các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HSST ngày 09 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Tuyên xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh H, Nguyễn Quang Linh V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
16
Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 40; Điều 50; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình;
Phạt bị cáo Nguyễn Minh H số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 40; Điều 50; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang Linh V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Quang Linh V phải chấp hành hình phạt chung là Tử hình;
Phạt bị cáo Nguyễn Quang L2 Vy số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
- Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V để đảm bảo Thi hành án.
- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V được quyền gửi đơn xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Án phí phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Minh H và Nguyễn Quang Linh V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Duyên |
17
Bản án số 907/2023/HSPT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 907/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh H, Nguyễn Quang Linh V phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy - y án sơ thẩm
