Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 904/2024/HS-PT

Ngày 12/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân T;

Các Thẩm phán:

Ông Đinh Ngọc H;

Bà Vũ Thị Thu H.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm L, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị B, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1018/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo Đỗ Duy K, Nguyễn Thành Đ phạm tội “Giết người”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 409/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

* Các bị cáo (đồng thời là người bị hại) có kháng cáo:

  1. Đỗ Duy K, sinh năm 1989; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; tham gia tổ chức Đảng, đoàn thể: Không; con ông Đỗ Tiến T và bà Nguyễn Thị Kim A; vợ là Đỗ Thị Ngọc L và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự: Không; có 01 tiền án: Ngày 23/7/2020, bị Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 16 tháng về tội “Đánh bạc” (chưa được xoá án tích do chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung phạt tiền); bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/8/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H; có mặt.
  2. Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2000; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; nơi ở: thôn Đ, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân K1; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; tham gia tổ chức Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Xuân S và bà Nguyễn Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/8/2023; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H; có mặt.

* Người bào chữa cho các bị cáo do Tòa án chỉ định:

  • - Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Duy K: Luật sư Đinh Thị Kim T1 - Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành Đ: Luật sư Đinh Anh T2 - Công ty L2, Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Duy K và Nguyễn Thành Đ ở cùng thôn Đ, xã T nên có quan hệ quen biết nhau. Ngày 09/9/2022, K hỏi vay Đô số tiền 2.000.000 đồng và hẹn ngày hôm sau sẽ trả. Do là chỗ quen biết nên Đ đồng ý và đưa cho K vay số tiền trên. Tuy nhiên sau đó khoảng 01 tuần, K vẫn chưa trả lại tiền đã vay cho Đ. Đô nhiều lần nhắn tin, gọi điện thoại cho K để yêu cầu trả tiền nhưng K xin khất nợ và sau đó không trả. Khoảng 20h00 ngày 24/9/2022, Đ tiếp tục nhắn tin qua Z cho K để đòi tiền nhưng K không trả lời. Đến 21h00 cùng ngày, Đ thấy K không trả lời nên tiếp tục nhắn tin cho K với nội dung “Nay anh không chuyển cho em mai em xuống tận nhà”. Ngay lúc này, K nhắn tin lại nội dung “Cái Dm cái thằng này, đã bảo để anh sắp xếp a lo cơ mà, mày thế nào thế”. Đô nhắn tin trả lời “A đừng chửi em còn thích tý nữa em vào” thì K nhắn tin lại cho Đ “Vào đi tao đang ở nhà”. Do bực tức vì bị K không trả tiền và còn thách thức nên Đ nhắn cho K “Còn đm lừa nhau á e tử tế với a...”. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô Honda, biển kiểm soát 29S6 692.09 đi từ nhà mình đến nhà K để đòi nợ. Đến nơi, Đ dừng xe đứng ở ngoài cổng và gọi, nói to đòi tiền K. Thấy vậy, K đi từ trong nhà ra và nói “Anh bảo thế nào rồi mà mày vẫn xuống”. Đ vẫn tiếp tục nói to đòi tiền để cho mọi người biết rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. Đ vừa đi vừa nói “Mày ra đây, mày ra đây nói chuyện”. Thấy Đ thách thức nên K đi vào trong nhà lấy 01 con dao (loại dao chuôi cuốn tông, có đầu bằng, dài 39cm, bản rộng lưỡi 07cm) đi ra tìm đánh nhau với Đ nhưng Đ đã bỏ đi. Lúc đó, chị Nguyễn Thị G (sinh năm 1980; trú tại: thôn Đ, xã T, huyện S, là mợ của K) khuyên K đi vào nhà, nên K đi về cất dao. Sau đó, K nhắn tin cho Đ nội dung “Thế là thế nào” và gọi cho Đ qua mạng Zalo nhưng Đ không nghe máy. K tiếp tục nhắn tin cho Đ “M giỏi đấy, mày đưa người vào đây, về đây bố mày chiều, tao đã nói là để tao dàn xếp, mày còn to mõm với tao à, để giờ nhà tao biết hết”. Đến khoảng 22h00 ngày 24/9/2022, K tiếp tục nhắn tin cho Đ với hội dung “Dmm ranh con, về đây bố mày trả tiền mày, xong bố chém chết cmm đi, gọi người đi, bố chỉ cần một mình thôi, tao đợi ở sân bóng”. Nhắn xong, K cầm theo 01 con dao kiểu dao chuôi cuốn tông đầu bằng dài 39cm, bản rộng lưỡi 07cm ra khu vực sân bóng thôn Đ, xã T, huyện S để chờ Đ đến. Thấy K hẹn trả tiền, nhưng lại có lời lẽ dọa nạt nên Đ cầm theo 01 con dao mũi nhọn (kiểu dao Thái Lan gọt hoa quả dài 30cm, lưỡi dao dài 20cm, lưỡi rộng 03cm) cài vào xe máy hiệu Honda, biển kiểm soát 29S6 692.09, rồi đi xe máy đến khu vực đường sân bóng thôn Đ. Khi Đ ra đến nơi thì K đã chờ sẵn và nói “Mày định thế nào”. Nói xong, K dùng tay phải cầm dao xông vào chém Đ thì Đ cũng dùng tay phải lấy con dao gọt hoa quả đang cài ở xe máy ra để đánh lại. Do thấy K cầm dao dài hơn đuổi chém nên Đ cầm dao bỏ chạy. Đ chạy ra đường thôn một đoạn thì K đuổi theo nói “Đứng im để tao chém thì tao giả tiền mày”. Khi Đ đứng lại thì bất ngờ K xông đến cầm dao chém 01 nhát trúng vùng thái dương trái, 01 nhát trúng vùng cổ trái, 01 nhát trúng khuỷ tay trái, 01 nhát trúng cánh tay trái của Đ. Ngay lúc này, Đ dùng tay phải cầm con dao giơ dao lên đâm chém nhiều nhát về phía K, trong đó có 01 nhát trúng vùng thái dương và má trái, 01 nhát trúng vùng nền cổ trước, 01 nhát trúng tĩnh mạch cảnh ngoài trái, 01 nhát trúng cánh tay phải, 01 nhát trúng khuỷ tay trái, 01 nhát trúng thành ngực trước trái và 01 nhát trúng lưng của K. Khi thấy K lùi, trượt chân ngã khuỵu xuống ria rãnh mương thì Đ dừng lại không đánh nữa. K tiếp tục chửi và đứng dậy cầm dao xông vào chém Đ nhưng Đ tránh được. Sau đó, do cùng bị thương tích cháy máu nên cả hai bỏ về. Ngay sau đó, K và Đ đều được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Phòng khám đa khoa Kim Anh huyện S, Bệnh viện H, Hà Nội và B đa khoa khu vực P, tỉnh Vĩnh Phúc để cấp cứu điều trị. Đô điều trị đến ngày 06/10/2022, K điều trị đến ngày 08/10/2022 được ra viện.

Sau khi tiếp nhận thông tin vụ việc, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành khám hiện trường, thu giữ vật chứng và trưng cầu giám định.

Tại bản giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1541/KLTTCT-TTPY ngày 23/10/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế thành phố H đối với Nguyễn Thành Đ, kết luận:

  • "... Sẹo vết thương thái dương trái: 03%.
  • - Sẹo vết thương vùng cổ trái: 04%.
  • - Sẹo vết thương khuỷ tay trái: 02%.
  • - Mẻ đầu dưới xương cánh tay trái phía trên lồi cầu ngoài: 03%.
  • - Vỡ xương thái dương trái: 08%.
  • - Tụ máu ngoài màng cứng thái dương trái: Do không cung cấp được phim ban đầu, Nguyễn Thành Đ từ chối chụp CT Scanner sọ não kiểm tra lại lên không đủ căn cứ xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể.
  • - Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thành Đ tại thời điểm giám, định trong vụ việc ngày 24/9/2022 là 19%.
  • - Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của Nguyễn Thành Đ do vật có cạch sắc gây ra".

Tại bản giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1536/KLTTCT-TTPY ngày 23/10/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế thành phố H đối với Đỗ Duy K, kết luận:

  • - Sẹo vết thương, vết mổ vùng thái dương - má trái: 09%:
  • - Sẹo vết thương, vết mổ vùng nền cổ trước: 06%.
  • - Tổn thương tĩnh mạch cảnh ngoài trái, phẫu thuật thắt tĩnh mạch: 12%.
  • - Sẹo vết thương mặt ngoài đầu trên cánh tay phải: 03%.
  • - Sẹo vết thương, vết mổ mặt sau ngoài khuỷ tay trái: 03%.
  • - Sẹo vết thương thành ngực trước trái: 02%.
  • - Sẹo vết thương lưng: 0.2%.
  • - Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Duy K tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 24/9/2022 là 32%.
  • - Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của Đỗ Duy K do vật có cạch sắc gây ra"...

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định ADN tại Trung tâm P đối với dấu vết máu thu giữ tại hiện trường vụ án.

Tại bản giám định ADN số 139/23/KLGDADN-PYHN ngày 24/08/2023 của Trung tâm P - Sở Y tế thành phố H, kết luận:

  • - Thử định tính phát hiện nhanh dấu vết máu người bằng Hb Card trên chiếc khẩu trang, con dao có chuôi dao và lưỡi dao bằng kim loại và các mẫu ký hiệu M11, M12: Dương tính.
  • - Thử định tính phát hiện nhanh dấu vết máu người bằng Hb Card trên con dao có chuôi dao bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại: Âm tính.
  • - ADN thu được từ chiếc khẩu trang gửi giám định trùng với ADN của Nguyễn Thành Đ trên các locus STR đã so sánh.
  • - ADN thu được từ con dao có chuôi dao và lưỡi dao bằng kim loại có hiện diện ADN của Đỗ Duy K trên các locus STR đã so sánh.
  • - ADN thu được từ mẫu ký hiệu M11 (chất màu nâu đỏ thu tại đường đi) có hiện diện ADN của Đỗ Duy K và Nguyễn Thành Đ trên các locus STR đã so sánh.
  • - ADN thu được từ mẫu ký hiệu M12 (chất màu nâu đỏ thu tại dao bằng kim loại) trùng khớp với ADN của Đỗ Duy K trên các locus STR đã so sánh.
  • - Không thu được đầy đủ dữ liệu ADN từ mẫu con dao có chuôi dao bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại nên không so sánh được với ADN của Nguyễn Thành Đ và Đỗ Duy K trên các locus STR đã phân tích.

Trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra vụ án, các bị can Nguyễn Thành Đ và Đỗ Duy K đều không yêu cầu bồi thường dân sự.

Cáo trạng số 211/CT-VKSHN-P2 ngày 16/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Đỗ Duy K, Nguyên Thành Đ1 về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 409/2024/HS-ST ngày 25/7/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Duy K và Nguyễn Thành Đ phạm tội “Giết người”

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 57; Điều 54 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đỗ Duy K 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2023.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 57; Điều 54 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xét.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 06/8/2024, bị cáo Đỗ Duy K kháng cáo xin giảm hình phạt.

Ngày 07/8/2024, bị cáo Nguyễn Thành Đ kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Đỗ Duy K vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã nộp án phí, bố vợ bị cáo là thương binh, bị cáo có 03 con nhỏ, mẹ bị cáo mới bị tai nạn chết, hoàn cảnh gia đình khó khăn để giảm hình phạt cho bị cáo và bị cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo Đ.

Bị cáo Nguyễn Thành Đ vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông ngoại bị cáo được tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đồng thời bị cáo xin giảm hình phạt bị cáo K.

Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Duy K đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nặng, tại cấp phúc thẩm bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm, bố vợ bị cáo là thương binh, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo được bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giảm cho bị cáo K mức hình phạt thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Đ có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường dân sự, ông ngoại bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng, bị cáo được người bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đỗ Duy K, Nguyễn Thành Đ về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, xử phạt bị cáo K 10 năm tù, bị cáo Đ 09 năm tù là phù hợp.

Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, các bị cáo xuất trình các tình tiết giảm nhẹ mới: Bị cáo K đã nộp án phí sơ thẩm, bố vợ bị cáo là thương binh, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo được bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Đ có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường dân sự, ông ngoại bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng, bị cáo được người bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Do vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo K, Đ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo K, Đ, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho mỗi bị cáo 01 năm tù.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo Đỗ Duy K, Nguyễn Thành Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm hình phạt cho các bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

  • [1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, bị hại và những người tham già tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  • [1.2] Kháng cáo của các bị cáo Đỗ Duy K, Nguyễn Thành Đ trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

  • [2.1] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Duy K, Nguyễn Thành Đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với kết luận giám định thương tích; biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc Đỗ Duy K vay của Nguyễn Thành Đ 2.000.000 đồng nhưng đến hẹn không trả. Đô nhiều lần nhắn tin, gọi điện thoại cho K để đòi tiền nhưng K xin khất nợ. Đô bức xúc đã đến nhà K đòi tiền dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi chửi và thách đố đánh nhau. Khoảng 22h00 ngày 24/9/2022, K mang theo 01 con dao rựa chuôi cuốn và hẹn Đ ra khu vực sân bóng thôn Đ, xã T, huyện S để đánh nhau. Thấy vậy, Đ cũng đem theo 01 con dao gọt hoa quả của Thái Lan đến điểm hẹn. Khi gặp nhau, K cầm dao đuổi Đ chạy trên đường T và dùng dao rựa chém nhiều nhát trúng vào người Đ, trong đó có 01 nhát trúng vùng đầu thái dương trái, 01 nhát trúng cổ trái, 01 nhát trúng khuỷu tay trái, 01 nhát trúng cánh tay trái của Đ. Ngay lúc đó, Đ cũng dùng dao gọt hoa quả của Thái Lan đâm chém nhiều nhát vào người K, trong đó có 01 nhát trúng vùng thái dương và má trái, 01 nhát trúng cổ phía trước, 01 nhát trúng vùng tĩnh mạch cảnh ngoài trái, 01 nhát trúng cánh tay phải, 01 nhát trúng khuỷ tay trái, 01 nhát trúng thành ngực trước trái và 01 nhát trúng lưng. Hậu quả, K và Đ đều bị thương tích nặng được gia đình đưa đi cấp cứu kịp thời, K bị tổn thương 32% sức khỏe, còn Đ bị tổn thương 19% sức khỏe.
  • [2.2] Với hành vi phạm tội như đã nêu trên, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo Đỗ Duy K và Nguyễn Thành Đ về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

  • [3.1] Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của công dân, gây mất trật, tự trị an xã hội và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tội phạm xảy ra. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong việc vay mươn tiền nhưng với bản tính côn đồ, hung hãn, coi thường pháp luật, các bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm là dao chém nhiều nhát vào vị trí sung yếu của cơ thế của nhau (Bị cáo K dùng dao rựa chém nhiều nhát trúng vào người bị cáo Đ, trong đó có 01 nhát trúng vùng đầu thái dương trái, 01 nhát trúng cổ trái. Bị cáo Đ cũng dùng dao gọt hoa quả của Thái Lan đâm chém nhiều nhát vào người K, trong đó có 01 nhát trúng vùng thái dương và má trái, 01 nhát trúng cổ phía trước, 01 nhát trúng vùng tĩnh mạch cảnh ngoài trái, 01 nhát trúng thành ngực trước trái và 01 nhát trúng lưng). Hành vi nêu trên của các bị cáo là hành vi giết người; việc các bị cáo K và Đ không chết mà chỉ bị thương tích nặng là do được gia đình đưa đi cấp cứu kịp thời. Hành vi của các bị cáo rất quyết liệt, thể hiện sự coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, cố ý tước đoạt tính mạng của bị hại. Việc bị cáo này không bị tử vong là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo kia. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm trừng phạt, răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
  • [3.2] Xét về nguyên nhân, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo thì thấy, bị cáo Đỗ Duy K vay tiền của Nguyễn Thành Đ nhưng không trả, khi Đ đến nhà đòi tiền thì bị cáo chửi bới, chủ động mang theo dao và thách thức hẹn Đ ra sân bóng thôn Đ để đánh nhau. Khi đánh nhau thì bị cáo K chủ động dùng dao rựa tấn công bị cáo Đ trước, chém nhiều nhát vào người Đ (trong đó, có 01 nhát trúng vùng đầu thái dương trái, 01 nhát trúng cổ trái, 01 nhát trúng khuỷu tay trái, 01 nhát trúng cánh tay trái của Đ), gây thương tích cho Nguyễn Thành Đ với tỷ lệ tổn hại sức khỏe 19%; nhân thân bị cáo đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điếm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • Đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ: Khi bị cáo K không trả tiền vay nợ và có lời nó thách đố; do bức xúc không kiềm chế được bản thân, bị cáo cũng đã chửi lại K và thách đố đánh nhau; khi đánh nhau, bị cáo đã dùng dao gọt hoa quả của Thái Lan đâm chém nhiều nhạt vào người K (01 nhát trúng vùng thái dương và má trái, 01 nhát trúng cô phía trước, 01 nhát trúng vùng tĩnh mạch cảnh ngoài trái, 01 nhát trúng cánh tay phải, 01 nhát trúng khuỷ tay trái, 01 nhát trúng thành ngực trước trái và 01 nhát trúng lưng), gây tổn hại cho Đỗ Duy K 32% sức khỏe, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
  • [3.3] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội “Giết người” chưa đạt, hậu quả chết người chưa xảy ra; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nhân thân bị cáo Nguyễn Thành Đ chưa có tiền án, tiền sự; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho nhau; tại phiên tòa, với tư cách là bị hại trong vụ án, các bị cáo đã xin giảm nhẹ hình phạt cho nhau. Đây là những tình tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • [3.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo K phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là có căn cứ, đúng pháp luật.
  • [3.5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, nguyên nhân phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử đối với các bị cáo, quyết định mức hình phạt của bị cáo K cao hơn mức hình phạt của bị cáo Đ là có căn cứ.
  • [4] Tại quá trình xét xử phúc thẩm, các bị cáo K, Đ cung cấp biên lai nộp án phí sơ thẩm, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo K có bố vợ là thương binh, có 03 con nhỏ; bị cáo Đ có ông ngoại được tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi nên để đảm bảo chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, giảm hình phạt tù cho các bị cáo là phù hợp và có căn cứ, đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung. Do bị cáo Đ gây thương tích cho bị cáo K mức cao hơn nên Hội đồng xét xử thấy cần giảm hình phạt cho bị cáo K nhiều hơn so với bị cáo Đ là phù hợp và có căn cứ.
  • Quan điểm đề nghị của luật sư bào chữa cho các bị cáo là có căn cứ cần được chấp nhận.
  • [5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Đỗ Duy K, Nguyễn Thành Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Đỗ Duy K, Nguyễn Thành Đ;
  2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 409/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Duy K, Nguyễn Thành Đ; cụ thể như sau:
    • Tuyên bố các bị cáo Đỗ Duy K và Nguyễn Thành Đ phạm tội “Giết người”
    • Áp dụng điểm n, khoản 1, Điều 123; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 57; Điều 54 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đỗ Duy K 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2023.
    • Áp dụng điểm n, khoản 1, Điều 123; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 57; Điều 54 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2023.
  3. Về án phí: Các bị cáo Đỗ Duy K, Nguyễn Thành Đ không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Ghi nhận bị cáo Đỗ Duy K đã nộp án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số 0066817 ngày 11/11/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội; bị cáo Nguyễn Thành Đ đã nộp án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số 0066816 ngày 11/11/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND Tp Hà Nội;
  • - VKSND Tp Hà Nội;
  • - Công an Tp Hà Nội;
  • - Cục THADS Tp Hà Nội;
  • - Các bị cáo (qua TTG);
  • - Lưu HS, PHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ong Thân T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 904/2024/HS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự

  • Số bản án: 904/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo Sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger