Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 904/2025/DS-PT

Ngày: 18.11.2025

V/v: Tranh chấp ngõ đi chung

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diệp Linh

Các Thẩm phán:

Bà Đặng Mai Hoa

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Trần Thị Luyến - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 674/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ngõ đi chung”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 23 tháng 07 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 878/2025/QĐPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 888/2025/QĐPT-HPTDS ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1973. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: T, xã M, Thành phố Hà Nội.(có mặt).Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đức T: Ông Lương Huy H – sinh năm 1990; Địa chỉ: Xóm E, xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ liên hệ: Nhà C, ngõ D Đ, phường T, thành phố Hà Nội. (có mặt)

Bị đơn: Bà Trịnh Thị T1, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Thôn C, Phường C, Thành phố Hà Nội. (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị T1: Bà Trần Thị Hồng C, sinh 2002; Địa chỉ: Tòa A Khu đô thị N, Phường Y, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

-Ông Trịnh Văn T2, sinh 1979; Địa chỉ: K, xã S, thành Phố Hà Nội. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T1: Công ty TNHH L4 –Luật sư Đỗ Thị Ánh T3. Địa chỉ: Tòa A Khu đô thị N, Phường Y, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Lê Tuấn H1, sinh năm 1960; HKTT: Thôn C, Phường C, Thành phố Hà Nội.Nơi ở: Nhà I dẫy A T, phường H,TP Hà Nội. có mặt)
  • - Ông Dương Phúc Đ, sinh 1974
  • Bà Nguyễn Thị Phương V, sinh 1979
  • - HKTT: Lê Lợi, xã V, Hà Nội. (vắng mặt)
  • - Ông Tạ Văn D, sinh 1968 và bà Nguyễn Thị Thanh X, sinh 1971
  • -HKTT: SỐ C N, phường H,Hà Nội. (vắng mặt)
  • - Ông Vũ Quang H2, sinh 1982 và bà Đàm Thị Phương C1, sinh 1982
  • - HKTT; Đội 3 T, Phường V, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)
  • -Ông Lại Nguyên B, sinh 1978 và bà Trần Thị Thùy L, sinh 1981
  • - HKTT; Số A, ngõ A phố Đ, Phường B, Hà Nội. (vắng mặt).
  • *- Hộ bà Nguyễn Thị A, sinh 1957
    • Bà Lê Thị B1,sinh 1982
    • - Ông Trịnh Duy T4, sinh 1978
    • Cháu Trịnh Thị Hồng Á, sinh 2007
    • Cháu Trịnh Duy Đ1, sinh 2011
  • -HKTT: Xóm G, thôn C,Phường C, Hà Nội. (vắng mặt)
  • Hộ bà Đỗ Thị H3, sinh 1952
    • Bà Lê Thị Vằng A1,sinh 1987
    • - Ông Nguyễn Văn L1
    • Cháu Nguyễn Lê Q,sinh 2012
  • - HKTT; Xóm G, thôn C, Phường C, Hà Nội. (vắng mặt)
  • - Phòng khám V4 do ông Nguyễn Bá V1, sinh 1972 – đại diện theo pháp luật. HKTT: Tổ dân phố B, Phường C, Hà Nội. (vắng mặt)
  • *- Hộ ông Lê Tuấn L2, sinh 1963 (có mặt)
    • Bà Tô Thị T5, sinh 1968
    • Anh Lê Tuấn N, sinh 1998
    • Chị Lê Thị P, sinh 2002
  • - HKTT: Xóm G, thôn C, Phường C, Hà Nội. (vắng mặt)

2

Do có kháng cáo của bị đơn là bà Trịnh Thị T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

1. Tại đơn khởi kiện, ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án- Nguyên đơn, ông Nguyễn Đức T trình bày:

Năm 2010, ông Lê Tuấn H1 và vợ là bà Ngô Thị T6 đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Lê Thị Kim đối V2 diện tích 112m² đất thuộc thửa đất số 255, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB 361124 do UBND huyện C cấp ngày 07/6/2010.

Tại thời điểm chuyển nhượng, sơ đồ thửa đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện phần ngõ đi chung giáp với nhà bà Lê Thị H4. Tuy nhiên, hộ ông H1, bà T6 và các hộ gia đình liền kề đều xác nhận có tồn tại ngõ đi chung rộng 2m, diện tích 14,9 m2 giáp với phần đất nhà bà Lê Thị H4 (Theo Biên bản kiểm tra xác minh hiện trạng sử dụng đất thửa đất số 255 tờ bản đồ số 01 diện tích 300 m2 tại thôn C lập ngày 23/12/2010).

Đến năm 2011, bà Lê Thị H4 ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Lê Thị Kim đối V2 diện tích 62,3 m² đất thuộc thửa đất số 256, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 900521 do UBND huyện C cấp ngày 27/01/2011.

Sau khi nhận chuyển nhượng, bà Lê Thị K đã tặng cho toàn bộ 02 thửa đất nêu trên cho ông Nguyễn Minh H5 (sinh năm 1964, CCCD số [...], địa chỉ thường trú: số A, ngõ E M, tổ dân phố I, phường K, quận H, thành phố Hà Nội).

Sau đó, tôi và vợ là bà Nguyễn Thu H6 đã nhận chuyển nhượng toàn bộ 174 m² đất từ ông Nguyễn Minh H5. Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, vợ chồng tôi tiến hành tách thửa và chuyển nhượng lại cho các cá nhân khác. Hiện nay, diện tích đất nêu trên được tách thành 04 thửa đất có thông tin như sau:

  1. Thửa đất số 640, tờ bản đồ số 18, diện tích 42,8 m2 đất, địa chỉ: thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 862559, mang tên ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thu H6, cùng sử dụng đất với ông Dương Phúc Đ, bà Nguyễn Thị Phương V.
  2. Thửa đất số 641, tờ bản đồ số 18, diện tích 43,8 m2 đất, địa chỉ: thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DI 862539, mang tên ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thu H6. Ngày 22/3/2023, chuyển nhượng cho ông Tạ Văn D và bà Nguyễn Thị Thanh X.
  3. Thửa đất số 642, tờ bản đồ số 18, diện tích 43,7 m² đất, địa chỉ: thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 862540, mang tên ông Vũ Quang H2 và bà Đàm Thị Phương C1.
  4. Thửa đất số 643, tờ bản đồ số 18, diện tích 44 m², địa chỉ: thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 862541, mang tên ông Lại Bình N1 và bà Trần Thị Thùy L.

Hộ nhà ông Lê Tuấn H1 chuyển nhượng đất cho bà Lê Thị K, trên thực tế đã tồn tại lối đi chung rộng 2m dùng để đi ra đường tỉnh lộ 419. Lối đi này được các hộ dân liền kề sử dụng ổn định, công khai, liên tục, không bị ai tranh chấp hoặc ngăn cản.

Vì vậy tôi làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ buộc bà T1 chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng ngõ đi chung cụ thể không được khóa cổng đi chung của các thửa đất bên trong để tôi xây dựng nhà ở và sử dụng thuận lợi. Yêu cầu Tòa án công nhận ngõ đi chung.

*Bị đơn – bà Trịnh Thị T1 Trình bày:

Tôi xin trình bày ý kiến theo yêu cầu của người khởi kiện là ông Nguyễn Đức T như sau:

Thứ nhất, ông Nguyễn Đức T cho rằng ông nhận chuyển nhượng diện tích 174m² từ ông Lê Tuấn H1 từ năm 2020. Tuy nhiên theo tôi được biết ông Lê Tuấn H1 đã bán 1 phần đất cho bà Lê Thị Kim V3 cuối năm 2010 và trong toàn bộ hồ sơ tôi không thấy ông T cung cấp Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T và ông H1 như vậy thì việc mua bán chuyển nhượng diễn ra như thế nào và có thực hiện đúng theo quy định pháp luật hay không? Do đó, tôi đề nghị ông T cung cấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên kèm theo các giấy tờ tài liệu có liên quan về việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên từ ông Lê Tuấn Huỳnh .

4

Thứ hai, lối đi đang tranh chấp có nguồn gốc do cha ông để lại, trước khi các bố mẹ chồng tôi mất đã để lại di chúc chia ông Lê Tuấn P1, bà Lê Thị H4, ông Lê Tuấn H1 và ông Lê Tuấn C2 (chồng tôi) mỗi người một mảnh đất. Đến năm 1991, gia đình tôi có đổ đất, xây kè mương tạo ra một lối đi vào nhà ông Lê Tuấn P1, bà Lê Thị H4, ông Lê Tuấn H1 ở phía bên trong. Thời điểm hình thành ngõ chỉ có gia đình tôi đi lại còn các gia đình khác vẫn đi bằng cổng lối đường làng. Năm 2010, ông Lê Tuấn H1 có đề nghị với gia đình tôi cho đi qua lối ngõ nêu trên và nghĩ đến tình nghĩa anh em trong gia đình nên gia đình tôi đã đồng ý. Sau đó, gia đình tôi cùng với 03 hộ gia đình của ông Lê Tuấn P1, ông Lê Tuấn H1 và bà Lê Thị H4 đã cùng nhau bàn bạc và thỏa thuận gia đình tôi cắt ra một phần đất trong diện tích đất của mình mở lối đi hiện tại mục đích chỉ để 4 hộ gia đình sử dụng đi lại cho thuận tiện. Điều này được thể hiện rất rõ trong Giấy xác nhận hiện trạng đường đi chung được lập vào ngày 02/08/2010 và có sơ đồ lối đi kèm theo đã thể hiện rõ ý chí của 4 hộ gia đình khi tạo ra lối đi chung này là chỉ sử dụng chung cho anh em trong gia đình phục vụ việc đi lại cho thuận tiện, không ai được vi phạm và làm trái với nội dung trong văn bản đó. Tôi không biết chính xác thời điểm ông Lê Tuấn H1 bán đất cho ông Nguyễn Đức T là vào thời gian nào. Tuy nhiên ông H1 đã vi phạm và làm trái với những quy định chung mà các gia đình đã thỏa thuận thống nhất với nhau, dẫn đến việc ông T cho rằng mình có quyền và tự ý sử dụng lối đi chung này mà chưa được sự đồng ý, bàn bạc, thống nhất từ các gia đình khác trong đó có gia đình của tôi. Đồng thời, kể từ đó đến nay gia đình tôi và các gia đình khác cũng chưa thỏa thuận lại và đồng ý để người khác sử dụng lối đi chung này. Do đó, tôi cho rằng việc tôi khóa cổng để không cho người khác xâm phạm đến lối đi chung của 4 hộ gia đình chúng tôi là việc làm đúng đắn và không gây cản trở đến hoạt động của ông Nguyễn Đức T.

Thứ ba, lối đi chung này không phải là lối đi duy nhất để ông Nguyễn Đức T có thể đi ra đường công cộng mà trên thực tế còn một lối đi khác có thể đi ra ngoài đường của xóm. Hơn nữa, tôi cho rằng diện tích đất ông Nguyễn Đức T đang sử dụng là thửa số 640, tờ bản đồ số 18 không phải bị vây bọc bởi các diện tích đất xung quanh và không có lối đi ra đường công cộng. Ông T vẫn có thể đi theo lối khác để đi ra ngoài đường công cộng.

Trên đây là toàn bộ ý kiến của tôi đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức T.

5

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Lê Tuấn H1 trình bày: Hiện đất ông đang ở không còn ai sinh sống thi thoảng ông mới về nhà, năm 2010 thì gia đình ông có bán diện tích khoảng 174m2 cho bà K chứ không phải bán trực tiếp cho ông Nguyễn Đức T giấy mua bán thì thỏa thuận cắt 2m2 trước mặt làm ngõ đi chung phần này đã thể hiện trên sổ đỏ của hộ mua sau này. Diện tích này cắt thẳng với đường chạy theo lối đi ra đầu ngõ giữa nhà bà Trịnh Thị T1 và ông Trịnh Duy T4, phần hơn 2m giáp nhà ông Lê Tuấn H1 và nhà bà Đỗ Thị H3 trước đây 6 anh em tự thỏa thuận ra làm ngõ đi chung có biên bản xã N xác nhận đối với diện tích 2m nhưng chưa được cấp sổ đỏ. Đất bán phải có cổng đi việc ông Nguyễn Đức T khởi kiện xác định ngõ đi chung là có căn cứ.
  • Hiện nay phần ngõ đi chung không liên quan gì đến nhà bà Trịnh Thị T1.
  • Phần nhà bà Trịnh Thị T1 đang ở hơn 4m mặt tiền thì đuôi giáp nhà bà Đỗ Thị H3 và không có lối đi chung.
  • - Ông Tạ Văn D, và bà Nguyễn Thị Thanh X, thửa đất số 641 tờ bản đồ số 18 diện tích là 43,8m2 địa chỉ thôn C xã N, huyện C mua lại của ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị Thu H6 giấy chứng nhận có ngõ đi chung rộng là 2m.
  • - Ông Đàm Quang H7 và Đàm Thị Phương C1, thửa đất số 642 tờ bản đồ số 18 diện tích là 43,7m2 địa chỉ thôn C xã N, huyện C, Hà Nội, chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn T7, giấy chứng nhận có ngõ đi chung rộng là 2m.
  • - Ông Tạ Văn D1 và bà Nguyễn Thị Thanh X, ông Nguyễn Văn T7 đều có ý kiến trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ngõ đi chung rộng 2m2.
  • - Ông Nguyễn Bá V1 chủ phòng khám V4 trình bày: Tôi thuê nhà của bà Nguyễn Thị T8 để mở phòng khám và không có liên quan gì đến việc tranh chấp ngõ đi của ông T và bà T8.
  • - Hộ bà Nguyễn Thị A có ý kiến: Việc tranh chấp ngõ đi giữa ông T và bà T8 không liên quan đến hộ gia đình nhà bà do gia đình bà đã xây dựng như hiện trạng và không liên quan đến tranh chấp của gia đình ông T và bà T8.
  • - Hộ gia đình ông Lê Tuấn L2 có ý kiến:
  • Gia đình nhà ông có 06 anh chị em gồm: Bà Lê Thị B2 (đã chết) ông Lê Tuấn P1 (đã chết); bà Lê Thị H4 (đã chết); ông Lê Tuấn H1, sinh năm 1960, ông Lê Tuấn L2, sinh 1963,ông Lê Tuấn C2 (đã chết).
  • Ngồn gốc đất tranh chấp là của tổ tiên để lại.

6

Từ năm 1980 đến 1989 bố mẹ tôi đã phân định 04 người con trai mỗi người 01 thửa để sinh sống. Từ năm chia làm 04 thửa gia đình chúng tôi đều thống nhất ngõ đi tranh chấp hiện nay hiện nay giữa ông T và bà T8 là ngõ đi chung có từ nhiều năm. Phần ngõ đi chung tranh chấp có trong phần sổ đỏ của những gia đình được cấp sổ đỏ rồi.

Hiện tại những người và hộ gia đình sinh sống trên thửa đất gồm có:

Hộ bà Nguyễn Thị H8, sinh 1952, hộ ông Lê Tuấn H1, hộ ông Lê Tuấn L2 và hộ bà Nguyễn Thị T8.

Ông L2 có quan điểm là ngõ đi là có thực, lối đi chung là có thực đất ngõ đi là của cha ông là ngõ đi chung không phải của ai cả, sổ đỏ của các nhà đều có.

- Bà Nguyễn Thị H8 trình bày: Bố mẹ chồng bà sinh được 06 anh chị em ruột, chồng bà, 01 chị gái, 01 em gái và 01 em trai đã chết. Hiện còn 02 em trai là ông Lê Tuấn H1 và ông Lê Tuấn L2 còn sống.

Ngõ đi tranh chấp giữa 02 nhà bà T8 và ông T là khoảng năm 1978-1980 mới có nhưng chưa xây mà chỉ có cầu tre bắc qua. Sau này mới thành cổng như hiện nay khoảng năm 1990 đến năm 2010 mới đẹp như hiện nay.

Ý kiến của bà về việc khởi kiện của ông T và bà T8.

Ngõ đi của các cụ để lại là có thật đi đường cổng sau phần cổng ra Bệnh viện của 04 anh em bỏ đất ra để làm đường việc bỏ đất là tự nguyện.

Tôi chỉ cho anh em trong gia đình đi không cho người ngoài đi vào.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 23 tháng 07 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp ngõ đi của ông Nguyễn Đức T.
  2. Buộc gia đình bà Trịnh Thị T1 phải trả lại ngõ đi chung cho các hộ bên trong hộ ông T và các hộ gia đình bên trong đi qua và tháo dỡ cổng đi, không được khóa cổng ngõ đi chung.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 05.08.2025 bị đơn bà Trịnh Thị T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 23 tháng 07 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới nào khác.

7

Bị đơn bà Trịnh Thị T1 và người đại diện theo ủy quyền có mặt tại phiên tòa giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cấp sơ thẩm chưa xem xét về nguồn gốc, chưa đánh giá khách quan đối với các tài liệu trong vụ án, về quá trình hình thành lối đi đang tranh chấp. Cấp sơ thẩm có hành vi vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu vì yêu cầu khởi kiện ban đầu không có việc phải phá dỡ cổng đi mà gia đình bà đã tạo dựng. Cấp sơ thẩm áp dụng không đúng quy định của pháp luật Điều 245, 254 Bộ luật dân sự. Đang có sự chồng chéo giữa điều 245 và điều 254 (lối đi qua bất động sản liền kề), nhầm lẫn về phần diện tích lối đi. Nguyên đơn cũng thừa nhận không tranh chấp lối đi 2m của các hộ từ thửa 640 – 641 – 642 – 643, chỉ tranh chấp phần lối đi giáp với nhà bà T1.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cấp sơ thẩm áp dụng điều 245 là không có cơ sở vì không đủ điều kiện áp dụng. Không chấp nhận yêu cầu của ông H1 đề nghị phá dỡ cổng của bà T1 vì ông H1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không có yêu cầu độc lập.

Ông H1 có mặt tại phiên tòa đề nghị bà T1 phá dỡ cổng vì bà thường khóa cổng từ 21h và 7h hôm sau mới mở, gây cản trở, khó khăn cho những hộ bên trong như ông trong sinh hoạt hàng ngày, ảnh hưởng đến quyền lợi của những người như ông. Ông khẳng định dưới phần đất ngõ đi chung có cống thoát nước của nhà ông. Ngõ đi này đã có từ năm 1984 – 1985, năm 1990 – 1991 bà T1 mới lấy em ông và về nhà ông ở. Ông sinh ra và lớn lên tại đây nên đề nghị phải để ông đi lại, trả lại quyền cho ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trịnh Thị T1; Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 23 tháng 07 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội về phần: xác định phần ngõ đi tranh chấp chỉ là phần ngõ đi giáp phần đất nhà bà T1, không tranh chấp phần lối đi chung của 4 thửa 640 – 641 – 642 – 643; về phần án phí: cấp sơ thẩm chưa tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí cho ông T. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

8

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Trịnh Thị T1 đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bên đương sự trong vụ án đều thừa nhận: Ngõ đi chung đang tranh chấp giữa ông T và bà T1 có nguồn gốc là của gia đình ông Lê Tuấn L3 là bố đẻ của ông Lê Tuấn H1 và là bố chồng của bà Trịnh Thị T1. Khi còn sống ông L3 có chia đất cho các con sau đó ông bớt đất ra làm ngõ đi chung của 04 gia đình rộng 2,5m ra đường 6 cũ. Từ ngày các hộ sinh sống cắt đất ra làm ngõ đi chung không có tranh chấp. Ngõ đi chung các hộ được thể hiện trên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất có ngõ đi chung 2,5m có biên bản xác nhận đường đi chung được UBND xã xác nhận ngày 05/8/2010. Thực tế diện tích hiện nay theo đo đạc là 69,6m2, vẫn giống như nguyên thủy lối đi đã hình thành từ trước. Các bên chỉ tranh chấp về việc ai có quyền đi ra lối đi này, không tranh chấp về diện tích lối đi chung. Các bên cũng thừa nhận chỉ tranh chấp lối đi chung giáp phần đất nhà bà T1, không tranh chấp phần lối đi chung của 4 thửa 640 – 641 – 642 – 643.

Thời điểm UBND huyện C (nay là Phường C) cấp cho hộ ông Lê Tuấn C2, sinh 1966 và bà Trịnh Thị T1, sinh1973 thửa đất số 279 tờ bản đồ số 01 diện tích 220,6m2 có ngõ đi chung 2,4m2 tại thôn C, xã N, huyện C, Hà Nội. Khi ông C2 mất thì bà Trịnh Thị T1 đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện C, hà Nội ngày 13/12/2023, thửa đất số 161 tờ bản đồ số 18 diện tích 220,6m2 tại thôn C xã N huyện C, Hà Nội mang tên bà trịnh thị T1 sinh 1972 cũng thể hiện ngõ đi chung trên giấy chứng nhận là 2,4m. Kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà T1 và ông C2 đều không có ý kiến gì đối với việc cấp giấy chứng nhận này.

Thửa đất số 256 tờ bản đồ số 01 diện tích 62,3m2 tại thôn C, huyện C, Hà Nội do UBND huyện C cấp cho bà Lê Thị K, sinh 1971; địa chỉ: M lương, K, Hà Nội có ngõ đi chung 2m.

9

Thửa đất số 255 tờ bản đồ số 01 diện tích 300m2 tại thôn C, huyện C, Hà Nội do UBND huyện C cấp ngày 7/6/2010 cho hộ ông Lê Tuấn Huỳnh S 1958 và bà Ngô Thị T6; địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện C, Hà Nội có ngõ đi chung 2m. Sau này ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị K, sinh 1971; Địa chỉ: M, K, H, Hà Nội, diện tích 173,5m2.

Sau đó bà K đã tặng cho cả 02 thửa đất trên cho ông Nguyễn Minh H5. Ông H5 tiếp tục chuyển nhượng cho ông T và vợ là bà Nguyễn Thu H6. Vợ chồng ông T tách làm 4 thửa 640 – 641 – 642 – 643 như hiện nay và đã chuyển nhượng một phần.

Theo Biên bản xác minh ngày 22.04.2025, UBND xã N xác định: Nguồn gốc ngõ đi chung là của gia đình ông Lê Tuấn L3 (là bố đẻ ông Lê Tuấn H1 và là bố chồng bà Trịnh Thị T1). Khi còn sống ông L3 có chia đất cho các con sau đó các con ông tự bớt đất ra làm ngõ đi chung của 04 gia đình. Từ ngày các hộ gia đình sinh sống cắt đất ra làm ngõ đi chung không có tranh chấp. Ngõ đi chung được thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình, hộ gia đình nào cũng đều thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ngõ đi.

Như vậy, ngõ đi tranh chấp là ngõ đi chung của các con cụ Lê Tuấn L3, trong đó có bà Lê Thị H4, ông Lê Tuấn H1 (là chủ sử dụng đất cũ đối với diện tích đất hiện ông T sử dụng, đã được tách thành 04 thửa 640, 641, 642, 643). Các đương sự - kể cả bà T1 đều thống nhất xác định đây là ngõ đi chung của 04 anh em (C2, H1, H4, P1), nằm trong khuôn viên của thửa đất do cụ L3 để lại. Quá trình sử dụng, giữa các anh em không có tranh chấp gì, sử dụng ổn định từ trước đến nay. Nay ông H1, bà H4 chuyển nhượng một phần diện tích đất cho bà K (hiện là ông T). Phần diện tích đất chuyển nhượng thể hiện có lối đi ra phần ngõ đi đang có tranh chấp; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà T1, ông C2 cũng thể hiện phần diện tích lối đi này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông C2, bà T1. Do đó, khi bà K nhận chuyển nhượng đất của ông H1, bà H4 thì bà K (nay là ông T) được quyền sử dụng lối đi này theo quy định của pháp luật.

Do xác định lối đi tranh chấp là lối đi chung của các gia đình sử dụng các thửa đất được tách ra từ thửa đất ban đầu của cụ Lê Tuấn L3 (không phải ngõ riêng của gia đình bà T1 hay ngõ đi công); cổng có trên ngõ đi là do gia đình bà T1 xây và hiện tại bà T1 đã khóa cổng, gây khó khăn cho việc sử dụng ngõ của các gia đình phía trong. Do đó, mặc dù tại đơn khởi kiện nguyên đơn không yêu cầu nhưng tại phiên tòa sơ thẩm, ông H1 yêu cầu và nguyên đơn cũng đồng quan điểm với ông H1 về vấn đề này. Yêu cầu này không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được toàn diện, triệt để và đảm bảo thi hành án. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm tuyên bà T1 phải tháo dỡ cổng ngõ đi chung là có căn cứ.

10

Bà T1 kháng cáo nhưng không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới. Hơn nữa, bà T1 cũng khẳng định gia đình đã kí Giấy xác nhận đường đi ngày 02.08.2010 (có xác nhận của UBND xã N ngày 05.08.2010) xác định ngõ đi chung như hiện tại, nhưng bà cho rằng ngõ này chỉ để cho các anh em trong gia đình đi, không cho người ngoài đi lại như vậy là không hợp lý và không đúng quy định của pháp luật nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Tuy nhiên, khi tuyên án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng không tuyên trả tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho ông T, cần hoàn trả ông T 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp; phần sơ đồ đã chú thích nhầm lẫn phần ngõ đi tranh chấp cả phần ngõ đi chung của 4 thửa 640 – 641 – 642 – 643. Vì vậy cần sửa án sơ thẩm về phần này.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những phân tích, nhận định trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trịnh Thị T1, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 23 tháng 07 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội như đã phân tích ở trên.

Về án phí: Bà T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 02 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;

Tuyên xử: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 23 tháng 07 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội.

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trịnh Thị T1.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp ngõ đi của ông Nguyễn Đức T.
  3. Buộc gia đình bà Trịnh Thị T1 phải trả lại ngõ đi chung cho các hộ bên trong hộ ông T và các hộ gia đình bên trong đi qua và tháo dỡ cổng đi, không được khóa cổng ngõ đi chung phần giáp đất nhà bà T1. (có sơ đồ kèm theo).
  4. Về án phí: Bà Trịnh Thị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả bà T1 số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0004719 ngày 19.08.2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
  5. Hoàn trả ông Nguyễn Đức T số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001756 ngày 23.01.2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ (nay là Phòng thi hành án dân sự số 6 - Hà Nội)
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND khu vực 6 – Hà Nội;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Diệp Linh

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 904/2025/DS-PT ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ngõ đi chung

  • Số bản án: 904/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ngõ đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ngõ đi chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger