Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 902/2024/DS-PT

Ngày: 17/10/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Giang

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng

Bà Lê Thị Hoàng Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Phương là Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 625/2024/TLPT-DS, ngày 19 tháng 8 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 459/2024/DS-ST, ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 5155/QĐ-VKS-DS, ngày 08 tháng 8 năm 2024 kháng nghị một phần bản án dân sự sơ thẩm số 459/2024/DS-ST, ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4822/2024/QĐ-PT, ngày 22 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 13463/2024/QĐ-PT, ngày 11 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14198/2024/QĐ-PT, ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Huyền T. Sinh năm 1984.

    Địa chỉ: 2 Đường số F, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Ngọc Huyền T:

    Ông Trần Ngọc T1. Sinh năm 2000.

    Bà Đoàn Ngân H. Sinh năm 1999.

    Địa chỉ: B đường C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 18262, quyển số 11/2023 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 01/11/2023 lập tại Văn phòng C, Thàn phố H). (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

  2. Bị đơn:

    Bà Nguyễn Thị H1. Sinh năm 1981.

    Ông Lê Tấn H2. Sinh năm 1981,

    Cùng địa chỉ: 9 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

  3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc Huyền T là nguyên đơn.

    Kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Huyền T có người đại diện theo ủy quyền là bà Đoàn Ngân H trình bày:

Ngày 26/3/2021, bà Nguyễn Ngọc Huyền T và ông Lê Tấn H2, bà Nguyễn Thị H1 ký kết hợp đồng vay tiền. Bà T cho ông H2, bà H1 vay số tiền 1.500.000.000 (một tỉ, năm trăm triệu) đồng, lãi suất 05% tháng; thời hạn vay 06 tháng (từ ngày 26/3/2021 đến ngày 30/9/2021). Sau khi ký kết hợp đồng, bà T đã chuyển khoản cho bà H1 đủ số tiền được ghi trong hợp đồng, bên nhận vay là bà H1 xác nhận đủ tiền tại trang cuối của hợp đồng.

Về tài sản bảo đảm theo hợp đồng, bị đơn ông H2 và bà H1 cam kết chuyển nhượng tài sản là Quyền sử dụng đất thửa số 382, tờ bản đồ số 38, diện tích 150 m² tại Ấp R, xã H, Thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho bà T. Tuy nhiên, ông H2, bà H1 không thực hiện việc chuyển nhượng tài sản này cho bà T. Do đó, bà T cũng không giữ bất kỳ tài sản nào của bị đơn để đảm bảo cho hợp đồng vay này.

Đến thời hạn trả tiền là ngày 30/9/2021, các bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn bất kỳ khoản tiền nào (bao gồm nợ gốc và lãi phát sinh). Sau nhiều lần nguyên đơn liên hệ yêu cầu trả nợ, ngày 09/12/2021 bị đơn đã chuyển trả cho bà T số tiền 1.400.000.000 (một tỉ, bốn trăm triệu) đồng gồm một phần tiền nợ gốc, tiền lãi tính từ ngày 26/3/2021 đến ngày 09/12/2021 với mức lãi suất 20%/năm cụ thể: Tiền lãi từ ngày 26/3/2021 đến ngày 09/12/2021 (thời gian 08 tháng 04 ngày); mức lãi suất 20%/năm (1,67%/tháng); 0,05%/ngày trên tống số nợ gốc 1,5 tỷ đồng thành số tiền lãi là: 210.900.000 đồng. Trả một phần tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng - 210.900.000 đồng = 1.189.000.000 đồng.

Bị đơn còn nợ bà T số tiền nợ gốc là 310.900.000 đồng. Sau khi trả số tiền 1.400.000.000 đồng cho đến nay, bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn bất kỳ khoản tiền nào khác.

Khởi kiện tại Tòa án, bà T yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc còn lại là 310.900.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn, phát sinh từ ngày 10/12/2021 đến ngày Tòa án xét xử với mức lãi suất trong hạn là 10% năm.

Về mức lãi suất cho vay: Nguyên đơn trình bày hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói là mức lãi suất cho vay bằng 05%/tháng. Tuy nhiên, hai bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi theo mức 05%/tháng (hai bên không có văn bản xác định mức lãi suất cho vay của hợp đồng).

Về địa chỉ của bị đơn bà T chỉ cung cấp được địa chỉ của bị đơn ông Lê Tấn H2 và bà Nguyễn Thị H1 tại số I đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 459/2024/DS-ST, ngày 17 tháng 7 năm 2024 Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Khoản 1 Điều 147, Điều 179, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 264, 266, 267, 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 385, Điều 401, Khoản 1 Điều 463, Khoản 1 và Khoản 4 Điều 466, Khoản 2 Điều 468, Khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 2 và Khoản 3 Điều 5, điểm a Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05/5/20217 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 5, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Ngọc Huyền T số tiền nợ theo Hợp đồng vay tiền ngày 26/3/2021 là 162.001.398 đồng. Trong đó gồm: nợ gốc quá hạn số tiền 128.545.000 đồng, lãi trên nợ gốc quá hạn là 33.456.398 đồng. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Lê Tấn H2 có nghĩa vụ thanh toán nợ cho bà T.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi bà Nguyễn Thị H1 thanh toán số tiền 270.266.722 đồng (trong đó nợ gốc quá hạn là 182.355.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 87.911.792 đồng).

Án phí Dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 8.100.070 đồng.

Bà Nguyễn Ngọc Huyền T phải chịu 13.513.336 đồng nhưng được trừ vào số tiền đã tạm nộp án ứng án phí đã nộp là 10.500.006 đồng, nguyên đơn còn phải nộp thêm là 3.013.330 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và thi hành án của các đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 19/7/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Huyền T có đơn kháng cáo không đồng ý quyết định của bản án sơ thẩm với lý do Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh chưa xem xét, đánh giá toàn diện khách quan các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc tranh chấp dẫn đến việc giải quyết vụ án về trả vốn và lãi theo hợp đồng chưa khách quan. Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết lại cho đúng.

Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 5155/QĐ-VKS-DS, ngày 08/8/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị đối với bản án sơ thẩm số 459/2024/DS-ST, ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu giải quyết lại vụ án theo hướng sửa bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu tính lãi trong hạn của nguyên đơn để bảo đảm việc giải quyết tranh chấp đúng quy định của pháp luật.

Triệu tập tham gia phiên tòa xét xử phúc thẩm hai lần nhưng do bị đơn đã chuyển nơi ở chỗ khác, triệu tập đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không lý do, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vắng mặt bị đơn theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh triệu tập bị đơn theo địa chỉ ghi tại phiếu xác minh nơi cư trú sau cùng nhưng bị đơn không còn lưu cư tại địa chỉ này. Để bảo đảm quyền lợi của đương sự có kháng cáo Tòa án tiếp tục phiên xử để bảo đảm quy trình tố tụng.

Về nội dung: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của nguyên đơn được nêu ra tại phiên tòa là có căn cứ đúng quy định, đã giải quyết có lợi cho bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị và một phần kháng cáo của nguyên đơn sửa quyết định của bản án sơ thẩm theo hướng đã được phân tích trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[I] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện trong thời hạn luật định là hợp lệ, bị đơn trong vụ án không kháng cáo, giải quyết phúc thẩm tại Tòa án, đương sự đã bỏ địa phương đi sinh sống nơi khác nên không triệu tập được, để bảo đảm việc giải quyết kháng cáo đúng hạn luật định, Tòa phúc thẩm vẫn tiến hành phiên xử vắng mặt bị đơn.

[II] Xem xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Sau khi giải quyết sơ thẩm vụ án, bà Nguyễn Ngọc Huyền T là nguyên đơn có đơn kháng cáo cho rằng:

Với số tiền nhận vay là 1.500.000.000 đồng, tính đến ngày 09/12/2021 bị đơn mới trả cho nguyên đơn được số tiền 1.400.000.000 đồng thông qua hình thức chuyển khoản, bao gồm một phần tiền nợ gốc và tiền lãi từ ngày 26/3/2021 đến ngày 09/12/2021 (08 tháng 15 ngày) với lãi suất 20% năm; 1,67%/tháng; 0,05%/ngày: số tiền 211.650.000 đồng và trả một phần nợ gốc là 1.188.350.000 đồng. Sau khi thanh toán số tiền 1.400.000.000 đồng cho nguyên đơn đến nay, bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn bất cứ khoản tiền nào khác. Vì lý do trên, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả cho bà Nguyễn Thị Huyền T2 số tiền nợ gốc còn lại cùng tiền lãi quá hạn phát sinh với mức lãi suất 150% của 10%/năm theo thỏa thuận của hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn, có lãi suất số tiền bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải trả là 440.387.065 đồng.

Giải quyết sơ thẩm vụ án Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định tại trang 07 của bản án cho rằng: “Do các bên trong giao dịch không cung cấp tài liệu, chứng cứ xác định mức lãi suất cho vay của hợp đồng vay tiền ngày 26/3/2021 nên xác định đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và không có lãi suất nên giải quyết tranh chấp theo hướng trên”.

Sau khi giải quyết sơ thẩm vụ án, Viện trưởng Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị bản án sơ thẩm có nội dung: “Tại hợp đồng vay tiền ngày 26/3/2021, hai bên thỏa thuận vay có lãi suất, việc nguyên đơn không tìm được tin nhắn để chứng minh mức lãi suất các bên thỏa thuận là bao nhiêu, trường hợp này phải căn cứ theo Khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự (2015) buộc bị đơn phải chịu lãi suất 10% đối với tiền vay trong hạn. Riêng lãi suất quá hạn, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán tỷ lệ 10%/năm từ ngày 10/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án là có lợi cho bị đơn, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự (2015). Vì lý do trên, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu tính lãi trong hạn của nguyên đơn như trình bày quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được phân công tham gia phiên tòa”.

Trên cơ sở thẩm tra, xem xét tài liệu và chứng cứ đã được thu thập trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Theo hợp đồng vay tiền ngày 26/3/2021, mặc dù bên vay được ghi trong hợp đồng là ông Lê Tấn H2 và bà Nguyễn Thị H1 nhưng trang cuối của hợp đồng vay tiền chỉ có chữ ký tên của bà Nguyễn Thị H1. Khởi kiện tại Tòa án, nguyên đơn cũng xác nhận tại thời điểm giao dịch dù có ghi tên trên hợp đồng nhưng ông H2 không có mặt, bà H1 đứng tên nhận chuyển khoản và xác nhận đã nhận đủ tiền vay và chứng minh ông Lê Tấn H2 không tham gia và sử dụng khoản vay này. Vì thế, kháng cáo của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Lê Tấn H2 phải cùng bà Nguyễn Thị H1 trả khoản nợ vay phát sinh còn thiếu trong hợp đồng vay tiền ngày 26/3/2021 không được cấp phúc thẩm xem xét, Tòa sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị H1 phải chịu trách nhiệm cá nhân về phần trách nhiệm dân sự như đã nêu phần trên là có căn cứ.

Từ phân tích tại phần đầu của bản án phúc thẩm, số tiền 1.400.000.000 đồng được thanh toán nợ gốc và nợ lãi như sau:

  • Lãi suất trong hạn: 1.500.000.000 đồng x 10%/năm x 06 (sáu) tháng = 75.000.000 đồng.
  • Lãi suất quá hạn (tính từ ngày 01/10/2021 đến ngày 09/12/2021): 1.500.000.000 đồng x 150% x 02 tháng 18 ngày = 42.431.507 đồng.
  • Số tiền nợ gốc bị đơn bà H1 chưa trả cho nguyên đơn: 1.500.000.000 đồng - 1.282.568.493 đồng = 217.431.507 đồng (số tiền 1.282.568.493 đồng là tiền gốc bà H1 đã thanh toán cho nguyên đơn, từ số liệu 1.400.000.000 đồng – 75.000.000 đồng - 42.431.507 đồng).

Như vậy, căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn bị đơn phải trả là: 217.431.507 đồng x 10%/năm x 150% x 02 năm 07 tháng 07 ngày = 84.880.197 đồng. Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải có trách nhiệm thanh toán cho bà T2 số tiền vay gốc quá hạn là 217.431.507 đồng và tiền lãi trên nợ gốc quá hạn là 84.880.197 đồng. Tổng số tiền bị đơn phải chịu trách nhiệm thanh toán là 302.311.704 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được phân công tham gia phiên tòa cũng thống nhất nhận định trên của Hội đồng xét xử phúc thẩm và đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm để phù hợp với diễn biến sự việc và quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Khoản 1 Điều 147, Khoản 2 Điều 148, Điều 179, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 385, Điều 401, Khoản 1 và Khoản 4 Điều 466, Khoản 2 Điều 468, Khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 26, Điều 28, Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Huyền T. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh.

Sửa một phần quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 459/2024/DS-ST, ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:

  1. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Huyền T nợ gốc quá hạn chưa trả là 217.431.507 (hai trăm mười bảy triệu, bốn trăm ba mươi mốt nghìn, năm trăm lẻ bảy) đồng. Trả khoản tiền lãi trên nợ gốc quá hạn, từ ngày 10/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 17/7/2024 là 84.880.197 (tám mươi bốn triệu, tám trăm tám mươi tám nghìn, một trăm chín mươi bảy) đồng. Cộng hai khoản trên bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Huyền T là 302.311.704 (ba trăm lẻ hai triệu, ba trăm mười một nghìn, bảy trăm lẻ bốn) đồng.

    Thi hành một lần tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

    Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu trách nhiệm trả lãi cho nguyên đơn số tiền phải thanh toán theo quy định tại Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

    Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Nguyễn Ngọc Huyền T phải án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền không được Tòa án chấp nhận (138.075.361 đồng) là 6.903.768 (sáu triệu, chín trăm lẻ ba nghìn, bảy trăm sáu mươi tám) đồng.

    Nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Ngọc Huyền T đã nộp là 10.500.006 (mười triệu, năm trăm nghìn, không trăm lẻ sáu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001652, ngày 29/11/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn lại cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.596.238 (ba triệu, năm trăm chín mươi sáu nghìn, hai trăm ba mươi tám) đồng.

    Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thi hành án là 15.115.585 (mười lăm triệu, một trăm mười lăm nghìn, năm trăm tám mươi lăm) đồng.

    Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Nguyễn Ngọc Huyền T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

    Hoàn lại cho bà Nguyễn Ngọc Huyền T số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0040022, ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tối cao (1);
  • - TÒA
  • - Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP . HCM (1);
  • - Viện kiểm sát NDTp.HCM (2);
  • - Cục THA Dân sự Tp. HCM (1);
  • - Tòa án ND Q. Tân Phú (1);
  • - Chi cục Thi hành án DS Q. Tân Phú (1);
  • - Các đương sự (4);
  • - Lưu 22b.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

Đỗ Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 902/2024/DS-PT ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 902/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thi hành án là 15.115.585 đồng; Bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger