TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 902/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08-8-2024 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Tốt.
- Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Bình, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 787/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 948/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1991 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Ngô Toàn T, sinh năm 1988 (Vắng mặt);
Địa chỉ: 28.04 (số cũ C.28.04) Block C, Chung cư Q - B, đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Địa chỉ: 9, đường V, Khu phố A (tổ C, Khu phố 1 cũ), phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 8 năm 2023, bản tự khai và tại các biên bản của Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị Thu H trình bày: Bà và ông Ngô Toàn T tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn vào năm 2015 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2015, ngày 05/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Bà H và ông T chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống và tính cách. Vợ chồng nhiều lần cãi vã, mức độ mâu thuẫn ngày càng tăng, kéo dài khiến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Thời gian gần đây, mâu thuẫn trong gia đình đã trở nên trầm trọng, sâu sắc, dù hai bên cũng có cố gắng tự hòa giải nhưng không có kết quả. Bà H và ông T đã không sống chung với nhau từ tháng 12/2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, nên bà Phạm Thị Thu H yêu cầu ly hôn với ông Ngô Toàn T.
Về con chung: Bà H xác định bà và ông T có 02 (hai) con chung là: 1/ Ngô Phạm Quỳnh A, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015, 2/ Ngô Phạm Bảo A1, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2020. Khi ly hôn, bà H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Quỳnh A, Bảo A1, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà H xác định không yêu cầu toà giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Bà H xác định không có.
Bị đơn ông Ngô Toàn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị Thu H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Ngô Toàn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tòa xét xử vụ án vắng mặt bà H, ông T.
[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Phạm Thị Thu H và ông Ngô Toàn T chung sống với nhau từ năm 2015, đã đăng ký kết hôn vào năm 2015, vì vậy căn cứ vào các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa cần xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Ngô Toàn T hiện đang cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3]. Về các yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu H và ông Ngô Toàn T tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn vào năm 2015 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2015, ngày 05/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Bà H và ông T chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống và tính cách. Vợ chồng nhiều lần cãi vã, mức độ mâu thuẫn ngày càng tăng, kéo dài khiến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Thời gian gần đây, mâu thuẫn trong gia đình đã trở nên trầm trọng, sâu sắc, dù hai bên cũng có cố gắng tự hòa giải nhưng không có kết quả. Bà H và ông T đã không sống chung với nhau từ tháng 12/2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, nên bà Phạm Thị Thu H yêu cầu ly hôn với ông Ngô Toàn T.
Căn cứ trả lời Công văn số 621/TAQ12 ngày 17 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Ủy ban nhân dân phường A, Quận A có cung cấp nội dung: “ ... Qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ, kiểm tra xác minh tại khu phố hiện tại không ghi nhận yêu cầu hòa giải trong hôn nhân giữa bà Phạm Thị Thu H và ông Ngô Toàn T”. Theo trả lời Công văn số 620/TAQ12 ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân Quận 12, Công an phường A, Quận A ghi nhận nội dung: “Đương sự Ngô Toàn T, sinh năm 1988 hiện đang thực tế cư ngụ tại 92/20/11, Khu phố A, phường A, Quận A”. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông T, nhưng ông T không đến tòa để có thể trình bày ý kiến, hoặc có thể hòa giải với bà H. Hai bên đã không sống chung với nhau từ tháng 12/2022 cho đến nay. Tình tiết này kết hợp với các tình tiết đã xác minh như đã nêu trên chứng tỏ ông T không quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân và hạnh phúc gia đình. Hai bên không có hành động gì để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Có thể thấy, quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu H, tuyên cho bà H được ly hôn với ông Ngô Toàn T.
Về con chung: Bà H xác định bà và ông T có 02 (hai) con chung là: 1/ Ngô Phạm Quỳnh A, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015, 2/ Ngô Phạm Bảo A1, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2020. Khi ly hôn, bà H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Quỳnh A và Bảo A1, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Đề nghị này của bà H là phù hợp với thực tế về việc cư trú và ý chí của trẻ Quỳnh A và Bảo A1, vì vậy, cần giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng 02 trẻ Ngô Phạm Quỳnh A và Ngô Phạm Bảo A1, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông T đến khi bà H có yêu cầu.
Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu toà giải quyết và ông T cũng không có đơn yêu cầu tòa giải quyết về tài sản chung, nên không xét.
Về nghĩa vụ chung: Bà H xác định không có, nên không xét.
[4]. Về án phí: Bà Phạm Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.
Ông Ngô Toàn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 266, 267 và 275 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 8, 9, 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7a, 7b, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự,
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu H, tuyên cho bà Phạm Thị Thu H được ly hôn với ông Ngô Toàn T.
- Về con chung: Bà H xác định bà và ông T có 02 (hai) con chung là: 1/ Ngô Phạm Quỳnh A, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2015, 2/ Ngô Phạm Bảo A1, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2020. Khi ly hôn, giao bà Phạm Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 trẻ Ngô Phạm Quỳnh A và Ngô Phạm Bảo A1. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Ngô Toàn T cho đến khi bà Phạm Thị Thu H có yêu cầu.
Vì lợi ích con chung, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con; không bên nào có quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Khi cần thiết, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu toà giải quyết và ông T cũng không có đơn yêu cầu tòa giải quyết về tài sản chung, nên không xét.
- Về nghĩa vụ chung: Bà H xác định không có, nên không xét.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Phạm Thị Thu H phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà H đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0031577 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Ngô Toàn T không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2015, ngày 05/3/2015 do Ủy ban nhân dân xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai cấp cho bà Phạm Thị Thu H và ông Ngô Toàn T không còn hiệu lực.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Sơn |
Bản án số 902/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 902/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
