TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 902/2024/DS-PT Ngày: 14 - 10 - 2024 V/v Tranh quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy một phần hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 14 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 228/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy một phần hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6244/2024/QĐPT ngày 25 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn V1; địa chỉ liên lạc: thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp:
- + Ông Nguyễn Văn Minh T, là người đại diện theo pháp luật (Giám đốc); vắng mặt.
- + Ông Nguyễn T1, sinh năm: 1957; địa chỉ liên lạc: số A, đường P, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
- Bị đơn: Vợ chồng ông Phạm Trung D, sinh năm: 1980, bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm: 1984; cư trú tại số G, đường L, khu B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Cao T2, sinh năm: 1972; địa chỉ: số A, đường N, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân tỉnh L; địa chỉ trụ sở: số D, đường T, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp:
- + Ông Trần Văn H, là người đại diện theo pháp luật (Chủ tịch Ủy ban nhân dân).
- + Ông Nguyễn Văn T3, là người đại diện theo ủy quyền; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L; địa chỉ: Trung tâm hành chính tỉnh L, số C, đường T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Ngọc H1, là người đại diện theo pháp luật (Giám đốc); vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ trụ sở: Số B N, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện hợp pháp:
- + Ông Trương Hoài M, là người đại diện theo pháp luật (Chủ tịch Ủy ban nhân dân).
- + Ông Trịnh Văn T4, là người đại diện theo pháp luật (Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân), có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Vợ chồng ông Nguyễn Văn D1, sinh năm: 1953, bà Bùi Thị Kim L, sinh năm: 1970; cư trú tại số B NW 25th S, O, OK 73106 USA; Vắng mặt.
Do có kháng cáo của nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Theo đơn khởi kiện ghi ngày 09/01/2018 của Công ty trách nhiệm hữu hạn V1 (sau đây gọi tắt là Công ty V1), lời trình bày tại các bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng của ông Nguyễn T1, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, thì: Vào ngày 24/12/2009 Ủy ban nhân dân tỉnh L cho Công ty V1 thuê diện tích đất 347,11ha thuộc tiểu khu D xã B, huyện B; khi nhận bàn giao thì Công ty nhận đủ diện tích nói trên; trong đó một phần diện tích đất nông nghiệp khoảng gần 20ha thì người dân đang quản lý, sử dụng, trồng cà phê, chè trên đất nên Công ty vẫn để cho người dân tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất này. Quá trình quản lý, sử dụng thì Công ty có trả công khai phá cho người dân đối với phần diện tích đất nông nghiệp
mà người dân đang trực tiếp quản lý khoảng 07ha; còn 13ha thì người dân vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng (có phần diện tích đất mà gia đình ông Nguyễn Văn D1 quản lý, sử dụng là 1,6ha) và Công ty V1 không có tranh chấp gì đối với 13ha đất này.
Ông Nguyễn Văn D1 là nhân viên bảo vệ phân trường B thuộc Công ty V1; để tạo điều kiện cho ông D1 sinh sống ổn định, gắn bó lâu dài với công việc nên tạm thời Công ty để cho ông Nguyễn Văn D1 xây một căn nhà cấp 4 với diện tích khoảng 152m² để ở, diện tích đất thuộc tiểu khu D thôn B xã B, huyện B trong khu vực do Công ty quản lý.
Đối với diện tích đất 1,6ha trồng cà phê và chè thì ông Nguyễn Văn D1 nhận chuyển nhượng lại của ông Ka M1. Hiện nay nguyên đơn không biết thông tin gì về ông Ka M1.
Vào ngày 29/5/2009, ông Nguyễn Văn D1 do hoàn cảnh gia đình khó khăn không làm việc tại Công ty nữa và phải thay đổi chỗ ở nên đã sang nhượng bằng giấy viết tay cho vợ chồng ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V diện tích đất là 01ha cà phê và 6 sào chè cùng với một căn nhà cấp 4 có diện tích khoảng 152m² với giá 300.000.000đ. Ông Nguyễn Văn D1 đã bàn giao cho vợ chồng ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V toàn bộ diện tích đất sang nhượng là 1,6ha trên thực địa và đã nhận đủ số tiền sang nhượng đất. Bên nhận chuyển nhượng cũng đã nhận đất trên thực địa và canh tác quản lý, sử dụng phần diện tích đất này.
Vào ngày 24/11/2009, khi tiến hành lập danh sách kiểm kê diện tích đất nông nghiệp thuộc công ty quản lý thì ông Phạm Trung D cũng xác nhận với Công ty phần diện tích đất mà vợ chồng ông Trung D, bà V quản lý, sử dụng là 16.000m² đất nông nghiệp và 152m² nhà ở.
Đối với diện tích đất mà ông Nguyễn Văn D1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Trung D, bà V thì vợ chồng ông Văn D1, bà L đã có văn bản xác nhận vào ngày 25/5/2019 với diện tích đất đúng theo giấy sang nhượng đất viết tay chứ không có diện tích đất mà bị đơn lấn chiếm thêm.
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, sử dụng thì vợ chồng ông Trung D, bà V có lấn chiếm của công ty diện tích đất sát nhà là 2.348m² và diện tích đất chè là 4.211m², việc lấn chiếm đất được thực hiện sau năm 2009, tài sản trên đất là đã có sẵn từ trước, vợ chồng ông Trung D, bà V không tạo lập tài sản gì trên đất.
Vào ngày 22/5/2015, các Ban, ngành của Ủy ban nhân dân xã B, huyện B đã lập biên bản hòa giải với nội dung giải quyết tranh chấp đất giữa Công ty V1 và vợ chồng ông Trung D, bà V. Tuy nhiên đến ngày 11/8/2016 Ủy ban nhân dân huyện B lại cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Trung D, bà V đối với phần diện tích đất mà các bên đang tranh chấp là không đúng quy định của pháp luật.
Việc tranh chấp quyền sử dụng đất thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trường hợp Công ty có xảy ra sai phạm thì không thuộc phạm vi giải quyết của Tòa án mà thuộc phạm vi giải quyết của các cơ quan hành chính.
Nay nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại phần đất có diện tích là 6.148,3m², trong đó có 4.211,4m² thuộc thửa đất số 31 tờ bản đồ số 55 tọa lạc
tại xã B, huyện B và 1.936,9m² (diện tích đất này hiện nay chưa có số thửa đất, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bất cứ ai, tuy nhiên, phần đất này thuộc phần đất lâm nghiệp mà Ủy ban nhân dân tỉnh L cho Công ty V1 thuê theo hợp đồng thuê đất ngày 24/12/2009 và phụ lục hợp đồng ngày 12/5/2014 thuộc khoảnh 4 tiểu khu D) theo như kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L. Đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 380374 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho vợ chồng ông Trung D, bà V vào ngày 11/8/2016.
Ngoài diện tích đất theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L thì vợ chồng ông Trung D, bà V còn quản lý, sử dụng khoảng 10.000m² đất trồng cà phê đang thu hoạch, phần đất này thì Công ty không tranh chấp và không yêu cầu tiến hành đo đạc; vợ chồng ông Trung D, bà V đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này chưa thì nguyên đơn không nắm rõ.
- Theo lời trình bày của ông Lê Cao T2, người đại diện theo ủy quyền của vợ chồng ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V, thì:
Đối với diện tích đất tranh chấp thì hiện nay bị đơn đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 380374 vào ngày 11/8/2016 đối với diện tích đất 10.870m² thuộc thửa đất số 31 tờ bản đồ số 55 tại xã B, huyện B.
Lô đất này có nguồn gốc do bị đơn nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Văn D1, bà Bùi Thị Kim L vào ngày 25/5/2008; khi nhận chuyển nhượng thì Ủy ban nhân dân xã B, huyện B có xác nhận trên đất có một ngôi nhà xây cấp 4 với diện tích 152m²; 10.000m² cà phê; 10.000m² chè thuộc xã B, huyện B, gia đình ông Nguyễn Văn D1 đã sống và sản xuất từ năm 1994 đến năm 2008. Đơn xin xác nhận ghi ngày 03/8/2008, được Ủy ban nhân dân xã B, huyện B xác nhận vào ngày 04/8/2008.
Đến nay, khi xảy ra tranh chấp thì diện tích đất trên đã bị Công ty V1 bán giấy tay cho người dân và hiện nay người dân là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng và phần lớn diện tích đất trên hiện là đã được người dân trồng cà phê. Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty V1 thì diện tích đất trên không phải do nguyên đơn quản lý, sử dụng mà do người dân trực tiếp quản lý, sử dụng.
Theo Văn bản số 1912/STNMT-QLĐĐ ngày 21/9/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L thể hiện nội dung: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Phạm Trung D, bà V là đúng quy định của pháp luật nhưng cũng tại Văn bản này Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L lại xác định phần diện tích đất thuộc thửa đất số 31 tờ bản đồ số 55 xã B, huyện B lại thuộc ranh giới mà Công ty V1 thuê. Việc trả lời này của Sở T là mâu thuẫn bởi vì không thể cùng một diện tích đất mà cấp cho hai chủ thể quản lý, sử dụng.
Đối với diện tích đất mà Công ty V1 thuê với mục đích là để bảo vệ và trồng rừng. Trong khi diện tích đất tranh chấp lại là diện tích đất nông nghiệp trồng câu lâu năm nên Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cho rằng diện tích đất này nằm trong ranh giới mà công ty V1 là không đúng.
Đối với diện tích đất theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L thì hiện nay vợ chồng ông Trung D, bà V là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Trên đất có nhà, có cây trồng lâu năm, có các công trình như điện nước, giếng, suối.... Ngoài diện tích đất đo đạc nêu trên thì việc ông Phạm Trung D, bà V còn quản lý, sử dụng diện tích đất nào nữa không thì ông không nắm rõ vì không thuộc phạm vi ủy quyền.
Hiện nay phần đất có diện tích 4.211,4m² đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Trung D, bà V đã được cấp; trên đất có sẵn cây cà phê và chè khi bị đơn nhận chuyển nhượng. Đối với phần đất có diện tích 1936,9m² vợ chồng ông D, bà V chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trên đất hiện đã có nhà, công trình điện nước, ao, công trình phụ, có cây trồng là cây ăn trái, sân phơi cà phê. Tài sản trên đất là khi bị đơn nhận chuyển nhượng đã có sẵn.
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn yêu cầu hủy hợp đồng cho thuê đất của Ủy ban nhân dân tỉnh L với Công ty V1 theo các Quyết định số 1529/QĐ-UB ngày 02/11/1993; Quyết định số 2556/QĐ-UB ngày 15/10/2009; Quyết định số 883/QĐ-UB ngày 06/5/2014; Quyết định số 2563/QĐ-UB ngày 30/11/2015 đối với diện tích 347,11ha thuộc tiểu khu D xã B, huyện B; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM926960 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho Công ty V1 vào ngày 25/6/2013 liên quan đến diện tích đất 6.148,3m², trong đó diện tích đất 4.211,4m² thuộc thửa đất số 31 tờ bản đồ số 55 tọa lạc tại xã B, huyện B và diện tích đất 1.936,9m² mà hiện nay bị đơn đang quản lý, sử dụng nhưng nguyên đơn đang tranh chấp. Vì Công ty V1 không quản lý, sử dụng diện tích đất trên đúng mục đích theo như hợp đồng thuê đất và các quyết định nêu trên.
- Theo lời trình bày của ông Nguyễn Trung T5, người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện B, thì:
Trình tự, thủ tục đăng ký kê khai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD380374 ngày 11/8/2016 cho ông D, bà V đối với thửa đất số 31 tờ bản đồ số 55 tại xã B là đúng trình tự, thủ tục và theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Theo nội dung của Văn bản số 1285/STNMT-TTr ngày 18/5/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L thì:
Ngày 02/11/1993 Ủy ban nhân dân tỉnh L ban hành Quyết định số 1529/QĐ-UB về việc thu hồi 367,3ha đất tại tiểu khu D (do Lâm trường B quản lý) để giao cho Chi nhánh Công ty V1 triển khai dự án trồng rừng. Tại Quyết định số 1529/QĐ-UB ngày 02/11/1993 ghi nhận hiện trạng đã có một số hộ dân sản xuất hoa màu trên diện tích đất được giao, Chi nhánh Công ty V1 có trách nhiệm tính toán bồi thường cho những người đang sử dụng đất.
Chi nhánh Công ty V1 được cấp 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H163588 ngày 13/01/1998, số P804618 ngày 01/11/2000, số P804657 ngày 12/12/2000, số P804658 ngày 12/12/2000 với tổng diện tích là 240,8ha.
Ngày 08/10/2009 Sở T có Báo cáo số 364/BC-STNMT kiến nghị chuyển từ hình thức giao đất sang hình thức cho Công ty V1 thuê đất, đồng thời điều chỉnh giảm diện tích đất được thuê.
Ngày 15/10/2009,Ủy ban nhân dân tỉnh L ban hành Quyết định số 2556/QĐ-UBND về việc điều chỉnh nội dung Quyết định số 1529/QĐ-UB ngày 02/11/1993 của Ủy ban nhân dân tỉnh L. Theo đó, Công ty V1 được cho thuê 347,11ha đất tại tiểu khu D xã B để triển khai dự án (giảm 20,19ha so với diện tích đất được giao theo Quyết định số 1529/QĐ-UB ngày 02/11/1993 của Ủy ban nhân dân tỉnh L, đây là những diện tích đất người dân đang sản xuất và Công ty V1 chưa tính toán bồi thường, hỗ trợ theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Công ty V1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN949472 ngày 23/10/2009 với diện tích 347,11ha. Sau đó, do bị mất Giấy chứng nhận nêu trên nên Công ty V1 được cấp đổi lại thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM926960 ngày 25/6/2013.
Năm 2009 một số hộ dân có đơn kiến nghị liên quan đến diện tích đất Ủy ban nhân dân tỉnh cho Công ty V1 thuê nên Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở T kiểm tra, đề xuất cụ thể.
Tại Báo cáo số 45/BC-STNMT ngày 26/02/2010 Sở T xác định: Trong số 367,3ha đất Chi nhánh Công ty V1 được giao theo Quyết định số 1529/QĐ-UB ngày 02/11/1993 của Ủy ban nhân dân tỉnh L, có khoảng 20ha đất do các hộ dân đã sản xuất từ trước, Công ty V1 chưa bồi thường và đã được điều chỉnh giảm ra khỏi diện tích đất cho thuê theo Quyết định số 2556/QĐ-UBND ngày 15/10/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Trên cơ sở báo cáo của Sở T, Ủy ban nhân dân tỉnh có Công văn số 1100/UBND-ĐC ngày 02/3/2010 giao Ủy ban nhân dân huyện B thống kê cụ thể các diện tích đất người dân đang canh tác và đề xuất hướng giải quyết. Tuy nhiên, đến nay chưa có hồ sơ đề xuất xử lý cụ thể.
Sau khi cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục ban hành:
- - Quyết định số 883/QĐ-UBND ngày 06/5/2014 để điều chỉnh tên tổ chức thuê đất theo Quyết định số 2556/QĐ-UBND ngày 15/10/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh L từ Công ty trách nhiệm hữu hạn V1 thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên V1.
- - Quyết định số 2563/QĐ-UBND ngày 30/11/2015 để điều chỉnh tên tổ chức thuê đất theo Quyết định số 883/QĐ-UBND ngày 06/5/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh L từ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên V1 thành Công ty trách nhiệm hữu hạn V1.
Như vậy, cho đến thời điểm hiện tại thì ranh giới, diện tích đất Công ty V1 được thuê sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo Quyết định số 2556/QĐ-UBND ngày 15/10/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh L.
Qua kết quả kiểm tra thì Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L đã tiến hành khoanh vẽ diện tích đất mà vợ chồng ông D, bà V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CD380374 ngày 11/8/2016 và lồng ghép, đối chiếu với bản đồ, hồ sơ cho Công ty V1 thuê đất theo Quyết định số 2556/QĐ-UBND ngày 15/10/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh L, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN949472 ngày 23/10/2009, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM926960 ngày 25/6/2013 cho Công ty V1 thì thấy rằng:
- - Phần lớn diện tích đất cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông D, bà V nằm ngoài ranh dự án, ngoài ranh giới, diện tích đất mà Công ty V1 được thuê và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
- - Chỉ có một phần nhỏ là thuộc ranh giới, diện tích đất Công ty V1 được thuê và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, căn cứ địa vật là con đường nhựa hiện hữu (ranh giới sử dụng đất giữa các bên trên thực tế) thì diện tích đất này Công ty V1 không sử dụng mà do các hộ dân sử dụng (sai số do biên tập bản đồ khi cho thuê đất).
Như vậy, toàn bộ diện tích đất vợ chồng ông D, bà V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD308374 ngày 11/8/2016 nằm ngoài phạm vi ranh giới dự án và ngoài diện tích đất Công ty V1 được thuê theo Quyết định số 2556/QĐ-UBND ngày 15/10/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh L, ngoài diện tích đất Công ty V1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM926960 ngày 25/6/2013.
Văn bản số 1285/STNMT-TTr ngày 18/5/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L thay thế cho Văn bản số 1912/STNMT-QLĐĐ ngày 21/9/2020.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã tuyên xử:
- - Căn cứ các khoản 5, 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 3 Điều 68, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 192, 193, 194, 688 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- - Căn cứ Điều 105, 135, 136 Luật Đất đai năm 2003;
- - Căn cứ Điều 188, 203 Luật Đất đai năm 2013;
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn V1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với vợ chồng ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V.
- Chấp nhận việc rút yêu cầu phản tố của vợ chồng ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V về việc “Yêu cầu hủy một phần hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất, hủy một phần Quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức” đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn V1. Đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu này.
Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết lại của đương sự được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 926960 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho Công ty V1 vào ngày 25/6/2013 đối với diện tích 163,4m² thuộc một phần thửa đất số 3, 4, tờ bản đồ cơ sở thuộc tiểu khu D, xã B, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Công nhận diện tích đất 4.211,4m² thuộc một phần thửa đất số 31, tờ bản đồ số 55 tọa lạc tại xã B, huyện B đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 380374 ngày 11/8/2016 cho vợ chồng ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V là của vợ chồng ông Trung D, bà V.
Tạm giao cho vợ chồng ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V quản lý, sử dụng lô đất có diện tích 1.936,9m²; trong đó có 1.773,5m² chưa có thửa đất và 163,4m² thuộc một phần thửa đất số 3, 4, tờ bản đồ cơ sở thuộc tiểu khu D, xã B, huyện B do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 926960 cho Công ty V1 ngày 25/6/2013 cùng với căn nhà lớn có diện tích 119,6m² và căn nhà nhỏ có diện tích 42,9m² tọa lạc trên diện tích đất nói trên; phần diện tích đất nói trên có 228,5m² đất lâm nghiệp.
Vợ chồng ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký kê khai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác theo quy định của Luật Đất đai.
(Có bản đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L thực hiện ngày 13/01/2020 kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25/4/2023, nguyên đơn – Công ty TNHH V1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, không rút đơn khởi kiện các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người kháng cáo – Công ty TNHH V1 có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Giữ nguyên lời trình bày như ở giai đoạn tố tụng sơ thẩm, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn – ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Giữ nguyên lời trình bày như ở giai đoạn tố tụng sơ thẩm, đề nghị HĐXX bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH V1 làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty V1 là có cơ sở. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, người kháng cáo không đưa ra được tình tiết, chứng cứ nào mới có căn cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của Công ty V1 giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH V1 làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật là hợp lệ nên đủ điều kiện để thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Xét kháng cáo của Công ty V1
- Xác định đối tượng tranh chấp
Công ty V1 khởi kiện ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V tranh chấp QSDĐ đối với tổng cộng 6.418,3m², gồm 2 phần: (1) diện tích 4.211,4m² (trồng cà phê + chè) thuộc một phần thửa đất số 31, tờ bản bản đồ số 55, xã B, huyện B, tỉnh Lâm Đồng nằm trong GCN QSDĐ số CD 380374 ngày 11/08/2016 do UBND huyện B cấp cho ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V; (2) diện tích 1.936,9m² trong đó có 163,4m² thuộc một phàn thửa đất số 3,4 tờ bản đồ cơ sở thuộc tiểu khu D, xã B, huyện B do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 926960 cho Công ty V1 ngày 25/6/2013 và 1.773,5m² chưa có thửa đất (đất trồng cà phê 1.655,5m², nhà kho 42,9m², 228,5m² đất lâm nghiệp), theo Bản đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh L lập ngày 13/10/2020 (BL 218).
- Về nguồn gốc phần đất tranh chấp
Ngày 02/11/1995, UBND tỉnh L ban hành QĐ số 1529/QĐ-UB về việc giao đất giao rừng cho Chi nhánh công ty V1 để quản lý, bảo vệ, trồng rừng và sản xuất nông lâm kết hợp bằng vốn tự có (BL 23) có nội dung:
“Điều 1: Thu hồi diện tích 367,3 ha rừng và đất rừng thuộc tiểu khu D phần trường B để giao cho Chi nhánh Công ty TNHH V1, ở tại khu vực xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng quản lý, sử dụng vào mục đích trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng và sản xuất nông lâm kết hợp bằng nguồn vốn tự có. Thời gian giao bằng một chu kỳ sản
xuất kinh doanh đối với rừng mà Chi nhánh Công ty V1 sẽ trồng (40 năm đối với rừng thông). Hiện trạng rừng, đất rừng: Đất có rừng: 41.23 ha; đất không có rừng: 326,07 ha. Vị trí khu đất: Tại khu vực xã L, huyện B. Phạm vi ranh giới theo Bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000 đình kèm.
Điều 2: Giao sở N1 chủ trì phối hợp với UBND huyện B, lâm trường B và các đơn vị liên quan tiến hành kiểm kê tài nguyên rừng, đất rừng theo đúng trình tự quy định của pháp luật, lập biên bản và tổ chức cắm mốc tại thực địa để bàn giao rừng, đất rừng cho Chi nhánh Công ty TNHH V1 quản lý, bảo vệ và sử dụng đúng theo tinh thần Điều 1 Quyết định này. Giao UBND huyện B chủ trì phối hợp với các ngành và đơn vịu liên quan giải quyết xử lý đối với các hộ dân đang sản xuất trên khu vực đất chuyển giao (nếu có) một cách hợp lý và theo đúng các quy định của pháp luật.
Điều 3: Chi nhánh Công ty TNHH V1 có trách nhiệm: Quản lý bảo vệ rừng và sử dụng đất rừng đúng mục đích, đúng phạm vi ranh giới được giao; Thực hiện đầy đủ các quy định về chế độ quản lý bảo vệ rừng, chế độ sử dụng đất lâm nghiệp theo đúng quy định của Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển rừng; Sau khi nhận đất rừng phải tổ chức ngay việc quản lý bảo vệ và trồng rừng theo phương án được các cơ quan chức nằng có thẩm quyền phê duyệt với quy định cụ thể là: Đối với rừng, dù là rừng trồng, rừng non tái sinh, rừng phục hồi sau nương rẫy, rừng nghèo kiệt, hoặc các cây rải rác trên khu vực đất trồng đều phải tổ chức quản lý bảo vệ, đầu tư chăm sóc theo hướng dẫn của ngành lâm nghiệp, không được phép khai thác rừng; Đối với đất trống thì phải tiến hành trồng rừng và sản xuất nông lâm kết hợp theo hướng dẫn của ngành lâm nghiệp; Đền bù hoa màu cho các hộ dân đang sản xuất trên khu vực đất giao (nếu có) một cách hợp lý; Nộp lệ phí địa chính và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ khác đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật”. Đính kèm theo QĐ là Bản đồ hiện trạng giao đất giao rừng Lâm trường B – Phân trường B Lá – Tiểu khu D tỷ lệ 1/10.000 (BL 02).
Tại phiên tòa phúc thẩm Công ty V1 trình bày: Sau khi UBND ban hành QĐ giao đất giao rừng cho Công ty V1, từ năm 1996 đến năm 1999 Công ty V1 đã bồi thường hoa màu cho 08 hộ dân ông Triệu Văn T6, ông Lê Ngọc L1, ông Vũ Thanh H2, ông Vũ Nhật T7, bà Đỗ Thị Thu H3, ông Đàm Văn S, ông Bế Văn T8, ông Nguyễn Mận C với tổng diện tích là 70.750m². Các hộ dân đã nhận đủ tiền bồi thường và bàn giao đất cho Công ty V1 quản lý, sử dụng để sản xuất nông lâm kết hợp. Năm 1997, Công ty V1 có cho ông Nguyễn Văn D1 là bảo vệ của Công ty V1 mượn một phần diện tích đất để canh tác. Đồng thời, Công ty V1 xuất trình các chứng cứ về việc bồi thường hoa màu cho 08 hộ dân như sau:
Biên bản đo đạc đất xâm canh đề ngày 03/4/1996 giữa Công ty V1 (do ông Tôn Thất C1, ông Nguyễn Văn D1 đại diện) và hộ xâm canh là ông Triệu Văn T6 có nội dung: Sau khi đo đạc đã xác định phần đất xâm canh của ông T6 là 750m², hiện trạng đất trồng trà từ năm 1990, đất có nguồn gốc tự chiếm, không có giấy tờ, quyết định giá bồi hoàn của Công ty là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Ông T6 ký nhận đủ tiền và cam kết bàn giao phần diện tích đất xâm canh cho Công ty V1.
Biên bản giao nhận hoa màu và tiền đề ngày 03/5/1996 giữa Công ty V1 (do
ông ông Nguyễn T1 đại diện) và hộ xâm canh là ông Lê Ngọc L1, ông Vũ Thanh H2 có nội dung: Hộ ông L1 xâm canh 1 ha đã trồng cà phê (năm 1: 03 sào + năm 2: 07 sào) tại khoảnh 4, tiểu khu D. Hộ ông H2 xâm canh 1 ha đã trồng cà phê năm 1 7 sào, còn lại 3 sào đất trống cũng tại khoảnh 4, Tiểu khu D. Hai bên thống nhất bồi thường hoa màu cụ thể sau: Ông L1 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) toàn bộ, ông H2 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng) toàn bộ. Ông N, ông H2 ký đã nhận đủ tiền, Đội bảo vệ chịu trách nhiệm quản lý trong lúc chờ quyết định cụ thể của công ty.
Biên bản giao nhận hoa màu đề ngày 12/6/1996 giữa Công ty V1 (do ông Nguyễn T1 đại diện) và hộ xâm canh là Vũ Nhật T7, Đỗ Thị Thu H3 có nội dung: Hộ ông T7 xâm canh trồng cà phê 1,6 ha (năm thứ 1: 0,6 ha + năm thứ 2: 1 ha) nằm trong khoảnh 4 Tiểu khu D. Hộ bà H3 xâm canh trồng cà phê cũng tại khoảnh 4 tiểu khu D 0,4 ha (năm thứ 1: 0,3 ha + năm thứ 2 0,1 ha). Bồi thường cho ông T9 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), bồi thường cho bà H3 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm ngàn đồng). Diện tích 2 ha đất trồng cà phê trên giao cho đội bảo vệ quản lý, chờ quyết định xử lý của công ty. Ông T7, bà H3 đã ký nhận đủ tiền.
Biên bản đo đạc đất xâm canh đề ngày 06/11/1996 giữa Công ty V1 (do ông Tôn Thất C1, ông Nguyễn Văn D1 đại diện) và hộ xâm canh là ông Đàm Văn S có nội dung: Sau khi đo đạc đã xác định phần đất xâm canh của ông S là 2.000m², hiện trạng đất trồng trà từ năm 1990, quyết định giá bồi hoàn của Công ty là 180.000 đồng (một trăm tám mươi ngàn đồng). Ông S ký nhận đủ tiền và cam kết bàn giao phần diện tích đất xâm canh cho Công ty V1.
Biên bản đo đạc đất xâm canh đề ngày 14/11/1996 giữa Công ty V1 (do ông Tôn Thất C1 đại diện) và hộ xâm canh là ông Bế Văn T8 có nội dung: Sau khi đo đạc đã xác định phần đất xâm canh của ông T8 là 0,8 ha, hiện trạng đất chè xen lẫn cỏ tranh (20 % chè), đất trống 0,64 ha, đất trồng trà 0,16 ha từ năm 1990, quyết định giá bồi hoàn của Công ty là 720.000 đồng (Bảy trăm hai mươi ngàn đồng). Ông T8 ký nhận đủ tiền và cam kết bàn giao phần diện tích đất xâm canh cho Công ty V1.
Biên bản xác minh về việc diện tích chè bỏ hoang trong khu vực đất trồng rừng 1999 đề ngày 14/6/1999 có nội dung: Tại phân trường B’Lá gồm có ông Lê Phước T10 (Phân trường trưởng), ông Nguyễn Mận C (chủ đất chè), 05 anh em bảo vệ thuộc phân trường gồm Tăng Văn M2, Đinh Văn T11, Hoàng Nhật L2, Lương Văn H4, Tăng Văn Q, qua kiểm tra cụ thể xác định: Số chè trồng trên diện tích theo số liệu ở bảng cam kết: 20.000m², số chè trên sau khi trồng 1991 đã bỏ không chăm sóc. Sau đợt cháy rừng 1997 hiện nay chỉ còn lại 10.000m², mật độ chề còn lại rất thừa 10m²/cây, đường kính gốc bình quân nhỏ hơn 1cm, diện tích trên hiện nay đã phát để sử lý và trồng rừng. Qua bàn bạc chủ đất yêu cầu Công ty Đ một số công phát và hạt giống trên diện tích còn lại 10.000m². Ngày 04/11/1991, ông Nguyễn Mận C lập Biên nhận tiền có nội dung: Ông C nhận 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) về khoản bồi thường hoa màu (đất có chè trong khu vực công ty trồng rừng năm 1999) chiếu theo biên bản để xác minh.
Xét thấy căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do Công ty V1 xuất trình có cơ sở xác định Công ty V1 đã bồi thường cho các hộ dân diện tích 70.750m² do các hộ dân
xâm canh, canh tác và các hộ dân đã bàn giao đất cho công ty V1 quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, tại các biên bản làm việc với người dân chỉ thể hiện diện tích Công ty V1 bồi thường cho các hộ dân mà không thể hiện số thửa, vị trí, tứ cận của phần đất Công ty V1 bồi thường dân các hộ dân. Do đó chưa đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp nằm trong diện tích đất 70.450m² mà Công ty V1 đã bồi thường cho các hộ dân như lời Công ty V1 trình bày. Đây là vụ án tranh chấp QSDĐ, việc xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp là một trong những căn cứ quan trọng để giải quyết vụ án và do có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên cần thu thập chứng cứ, xác minh tại UBND cấp xã về nguồn gốc phần đất tranh chấp mới có đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
- Về giao dịch chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Nguyễn Văn D1, bà Bùi Thị Kim L và ông Phạm Trung D, bà Nguyễn Thị Bích V
Công ty V1, ông Nguyễn Văn D1, bà L cùng trình bày: năm 2009, ông Nguyễn Văn D1, bà L chỉ chuyển nhượng cho ông Phạm Văn D2, bà V 10.000m² đất trồng cà phê, 6.000m² đất trồng trà và căn nhà cấp 4 trên diện tích đất 152m², diện tích còn lại khoảng 6.0000m² có nguồn gốc ông Nguyễn Văn D1 mượn của Công ty V1 nên ông Nguyễn Văn D1 không chuyển nhượng cho ông Phạm Trung D, bà V 6.000m² đất này, khi xuất cảnh đi nước ngoài thì ông Nguyễn Văn D1, bà L không còn canh tác nữa nên trả lại cho Công ty V1.
Tại Giấy sang nhượng đất vườn nhà đề ngày 29/5/2009 giữa ông Nguyễn Văn D1, bà Bùi Thị Kim L và ông Phạm Trung D (BL 31) có nội dung: Vợ chồng ông Nguyễn Văn D1, bà L có miếng đất trà + cà phê tọa lạc tại Thôn B xã B diện tích 10.000m² (cà phê), 6.000m² (đất trà) thêm 1 căn nhà cấp 4 diện tích 152m². Nay vì hoàn cảnh ông Nguyễn Văn D1, bà L nhượng lại cho ông Phạm Trung D với số tiền là 300.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn D1, bà L đã nhận đủ tiền. Ông Nguyễn Văn D1, bà L có giao cho ông Phạm Trung D một giấy chứng nhận sử dụng đất của xã B ngày 29/5/2008.
Xét thấy, tại Giấy sang nhượng nhà đất thể hiện ông Nguyễn Văn D1, bà L chuyển nhượng cho ông Phạm Trung D diện tích 10.000m² (cà phê), 6.000m² (đất trà) thêm 1 căn nhà cấp 4 diện tích 152m². Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mới thể ông Nguyễn Trung D3, bà V đang sử dụng 12.832,9m² theo Bản đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng ĐKDĐ tỉnh Lâm Đồng lập ngày 13/10/2020. Công ty V1 trình bày ngoài phần diện tích 12.832,9m² theo Bản đồ hiện trạng ngày 13/10/2020 thì ông Phạm Trung D, bà V còn sử dụng 10.000m² (cách phần diện tích 12.832,9m² khoảng 200m) đất trồng cà phê cũng tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Lâm Đồng nhưng Công ty V1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình.
Như vậy, cần phải thu thập chứng cứ, xác minh làm rõ tổng diện tích đất mà ông Phạm Trung D, bà V sử dụng tại xã B, huyện B, tỉnh Lâm Đồng là bao nhiêu m², nguồn gốc của phần đất này. Sau khi xác định được tổng diện tích đất mà ông Phạm Trung D, bà V sử dụng cần làm rõ phần đất nào là do ông Phạm Trung D, bà V nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn D1, bà L theo Giấy sang nhượng đất vườn nhà đề ngày 29/5/2009, từ đó mới có cơ sở xác định ông Phạm Trung D, bà V có lấn đất
của Công ty V1 hay không, nếu có thì cần xác định phần đất nào là nhận chuyển nhượng, phần đất nào là lấn thêm mới có đủ cơ sở giải quyết vụ án.
- Tại Công văn số 1285/STNMT-TTr ngày 18/5/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L thể hiện: “Toàn bộ diện tích đất ông D, bà V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD308374 ngày 11/8/2016 nằm ngoài phạm vi ranh giới dự án và ngoài diện tích đất Công ty V1 được thuê theo Quyết định số 2556/QĐ-UBND ngày 15/10/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh L, ngoài diện tích đất Công ty V1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM926960 ngày 25/6/2013”. Tuy nhiên, trong trường hợp xác định phần đất tranh chấp thuộc phần diện tích 70.750m² Công ty V1 đã bồi thường cho các hộ dân vào năm 1996 thì cần xem xét quyền lợi của Công ty V1.
- Xét thấy, do có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm (Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi), cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu chứng cứ mới có đủ cơ sở giải quyết vụ án nhưng tại cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, cần phải hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nhằm đảm bảo vụ án được giải quyết toàn diện, triệt để và đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử.
- Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.
- Từ các nhận đinh nêu trên, HĐXX có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty TNHH V1, hủy Bản án sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, chuyển hồ cho Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH V1. Hủy bản án sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Công ty TNHH V1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho Công ty TNHH V1 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0014850 ngày 17/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Đức Toàn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | |
Lê Thúy Cầu | Nguyễn Văn Hùng | Vũ Đức Toàn |
Bản án số 902/2024/DS-PT ngày 14/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy một phần hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 902/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy một phần hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH V1. Hủy bản án sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 25/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
