TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 901/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 7 - 2024 V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Mai Lan
- Bà Võ Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 5/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 201/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Xuân T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 568/21 đường D, phường E, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Phan Thiện Nhất A, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số 204/14 đường B, Phường C, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Xuân T trình bày:
Bà và ông Phan Thiện Nhất A tự nguyện quen biết, tìm hiểu, yêu thương nhau, rồi tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 106, ngày 02/6/2010. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nên cả hai đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Bà đã 2 lần nộp đơn ly hôn vào năm 2018 và năm 2023 nhưng đều rút đơn và quay về sống chung để hàn gắn quan hệ vợ chồng và giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt, nên bà yêu cầu ly hôn với ông Phan Thiện Nhất A để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phan Thiện Nhật A vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, do bị đơn vắng mặt không tham gia phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử văng mặt bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên toà sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Lê Thị Xuân T yêu cầu ly hôn với ông Phan Thiện Nhất A nên quan hệ giải quyết trong vụ án là tranh chấp ly hôn, ông Phan Thiện Nhất A có địa chỉ tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Phan Thiện Nhất A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Phan Thiện Nhất A.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Lê Thị Xuân T và ông Phan Thiện Nhất A là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 106, do Ủy ban nhân dân Phường E, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/6/2010.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Bà Lê Thị Xuân T trình bày giữa bà và ông Phan Thiện Nhất A bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Bà đã 2 lần nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp vào năm 2018 và năm 2023, tuy nhiên đều rút đơn nhằm mục đích hàn gắn quan hệ vợ chông nhưng vẫn không có kết quả. Nay bà Lê Thị Xuân T lại tiếp tục nộp đơn ly hôn với ông Phan Thiện Nhất A. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Xuân T và ông Phan Thiện Nhất A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về phía ông Phan Thiện Nhất A đã được Tòa án triệu tập tham gia các phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà Lê Thị Xuân T và ông Phan Thiện Nhất À hàn gắn đoàn tụ, nhưng ông Phan Thiện Nhất A vẫn không có mặt thể hiện ông Phan Thiện Nhất A không có thiện chí giải quyết những mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Xuân T.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà Lê Thị Xuân T và ông Phan Thiện Nhất A là có thật, đã trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Xuân T theo quy định tại Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Xuân T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Xuân T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí, lệ phí và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2017, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Xuân T được ly hôn với ông Phan Thiện Nhất A.
Giấy chứng nhận kết hôn số 106 do Ủy ban nhân dân Phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/6/2010 cho ông Phan Thiện Nhất A và bà Lê Thị Xuân T không còn hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Xuân T không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Xuân T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do bà Lê Thị Xuân T đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0013274 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Xuân T đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Xuân T có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phan Thiện Nhất A vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Loan |
Bản án số 901/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 901/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
