Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 900/2024/HS-PT

Ngày 11/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân T;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phan N ;

Ông Phạm Việt H.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm L, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn A, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 1019/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Ngọc V phạm tội “Giết người”, do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2024/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

* Bị cáo không kháng cáo, bị kháng cáo:

Hoàng Ngọc V, giới tính: Nam; sinh ngày 15/10/1988, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H và bà Nguyễn Thị B; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 02/4/2024; tạm giam ngày 05/4/2024; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Ngọc V do Tòa án chỉ định:

Luật sư Đinh Thị Kim T - Công ty L3, Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.

* Người bị hại:

Anh Bùi Duy T1 (đã chết)

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại có kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1987 (vợ anh T1); trú tại: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện bị hại:

Luật sư Bùi Thị H1 - Công ty L4, Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt.

1

Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại bà Lê Thị C, chị Bùi Thị L1 không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2023, Hoàng Ngọc V có vay của anh Bùi Duy T1 số tiền 25.000.000 đồng để trang trải cho công việc làm ăn nhưng chưa có điều kiện để trả cho anh T1 nên khoảng 20h30' ngày 01/4/2024, V đang uống bia ở quán nhà ông Đ, còn anh T1 đang uống bia ở quán nhà anh Sơn T2 cùng ở phố T, phường Q, thành phố T; anh T1 gọi điện cho V để đòi tiền nợ thì V có nói với anh T1 là tí nữa tôi về sẽ trả. Tuy nhiên, anh T1 chửi bới Văn qua điện thoại làm cho V bức xúc. V đi đến quán S1 để tìm anh T1 nói chuyện. Khi gặp anh T1, V nói tại sao lại chửi bới Văn, nhưng anh T1 không trả lời mà còn tiếp tục chửi bới Văn và sau đó lao vào dùng tay tát V hai cái vào má bên trái. Bực tức vì bị anh T1 chửi và đánh nên V chạy về nhà (cách quán S1 khoảng 30m), V đi vào chỗ kệ ti vi lấy 01 con dao nhọn rồi quay lại quán S1. Thấy anh T1 vẫn đang đứng trước cửa quán S1, Văn L2 đến trước mặt anh T1 (đối diện) dùng dao đâm anh T1 03 nhát, trong đó có 01 nhát trúng vào vùng ngực, 01 nhát trúng vùng bụng trái, 01 nhát trúng cánh tay trái. Bị V đâm, anh T1 kêu lên “thằng V đâm tao rồi” và ôm bụng bỏ chạy một đoạn thì ngã gục xuống đất, lúc này ông Hoàng Văn H (là bố đẻ V) ra can ngăn nên V không đâm anh T1 nữa mà cầm dao đi về nhà. Sau đó, V cầm dao đến Công an phường Q đầu thú. Anh T1 được mọi người đưa đi cấp cứu nhưng thương tích nặng nên đã tử vong trên đường đi cấp cứu.

Sau khi vụ án xảy ra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phối hợp cùng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Quyết định trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân chết của nạn nhân Bùi Duy T1.

* Khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra sự việc được xác định tại đoạn đường Vĩnh Yên thuộc phố Thành Yên, phường Quảng Thành, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Đoạn đường Vĩnh Yên chạy dọc theo hướng B, hai bên đường là khu dân cư, mặt đường được rải nhựa bằng phẳng. Tiến hành khám nghiệm theo chiều từ Bắc - Nam thấy:

- Vị trí (1) là đám chất màu nâu đỏ (nghi máu) nằm rải rác không liên tục từ vị trí số (1) đến đầu vị trí số (2). Vị trí (1) nằm ngay trước cổng nhà số D phố T, phường Q. Vị trí (1) cách cửa cổng ra vào nhà số D là 30cm, vết có dạng nhỏ giọt, chiều hướng tập trung từ Bắc - N, tại một số vị trí trên mặt đường có in dấu vân dạng bàn chân (bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu, vị trí rộng nhất đo được là 65cm. Cách đầu vị trí (1) về phía Nam 420cm phát hiện một dép màu đen, bên phải, có dòng chữ "Nike”, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ (nghi máu).

2

- Vị trí (2) đám chất màu nâu đỏ (nghi máu) trong diện 300cm x 200cm, vết có dạng vũng, từ vị trí đầu vết (1) đến (2) là 1.660cm. Vết (2) nằm tương ứng vị trí bậc hè và đường V phía trước nhà anh Nguyễn Viết S, phố T, phường Q, thành phố T.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thu giữ 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 25cm, cán dao bằng gỗ, loại dao một lưỡi sắc bằng kim loại màu sáng, mũi dao nhọn, lưỡi dao có chất màu nâu đỏ và thu giữ mẫu máu tại vị trí (1) và (2) để giám định xác định có phải máu của Bùi Duy T1 không?

Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 1688/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T giám định kết luận:

- Trên con dao gửi đến giám định có máu của Bùi Duy T1.

- Mẫu máu ký hiệu M1 và M2 ghi thu ở hiện trường gửi đến giám định đều là máu của Bùi Duy T1.

- Lưu kiểu gen (theo hệ Globalfiler) của Bùi Duy T1 tại Phòng K, Công an tỉnh T.

* Khám nghiệm tử thi:

Tại Kết luận giám định tử thi số 1669/KLGĐTT-PC09 ngày 24/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T giám định kết luận:

Kết quả khám nghiệm:

- Các vết rách da, cơ dạng hình bầu dục tại vùng: ngực, bụng, cánh tay trái.

- Tụ ngấm máu tổ chức dưới da cơ vùng cổ, ngực, bụng, tổ chức liên kết quanh thanh, khí phế quản, bó mạch cảnh bên phải.

- Rãnh thương vùng ức đòn phải và vùng cổ bên phải làm đứt tổ chức da, cơ vùng cổ phải và tĩnh mạch cảnh trong bên phải.

- Rãnh thương vùng bụng trái làm đứt tổ chức da, cơ vùng bụng trái.

- Dạ dày có thức ăn chưa nhuyễn.

Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Mẫu máu của Bùi Duy T1 niêm phong gửi giám định có nống độ cồn 112,71mg/100ml máu.

Kết luận nguyên nhân chết: sốc mất máu không phục hồi do vết thương đứt tĩnh mạch cảnh trong bên phải.

Sau khi khám nghiệm tử thi đã được bàn giao cho gia đình về làm thủ tục chôn cất.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 con dao bằng kim loại có tổng chiều dài 25cm, cán dao bằng gỗ, loại dao một lưỡi sắc bằng kim loại màu sáng, mũi dao nhọn.

- 01 USB chứa video sao lưu từ bộ nhớ camera của gia đình chị Nguyễn Thị L và 01 (một) USB chứa video sao lưu từ bộ nhớ camera của gia đình ông Nguyễn Viết S.

3

Tại Kết luận giám định số 1655/KL-KTHS ngày 24/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hỉnh sự Công an tỉnh T giám định kết luận:

- Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 04 (bốn) tệp video của 02 (hai) USB gửi giám định.

- Trích xuất một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định - Thể hiện trong mục lục. Kèm theo kết luận giám định có 01 phụ lục gồm 11 ảnh trong 06 tờ giấy A4.

Ngày 01/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành thu giữ mẫu máu của tử thi Bùi Duy T1. Ngày 02/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành thu giữ mẫu máu của Hoàng Ngọc V để giám định xác định nồng độ cồn có trong máu của Hoàng Ngọc V và tử thi Bùi Duy T1.

Tại Kết luận giám định số 1547/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T giám định kết luận:

- Mẫu máu của Hoàng Ngọc V niêm phong gửi giám định có nồng độ cồn là 38,35mg/100ml máu.

- Mẫu máu của Bùi Duy T1 niêm phong gửi giám định có nồng độ cồn là 112,71mg/100ml máu.

* Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện gia đình Hoàng Ngọc V đã hỗ trợ cho gia đình anh Bùi Duy T1 số tiền 30.000.000 đồng. Bà Lê Thị C yêu cầu Hoàng Ngọc V bồi thường toàn bộ chi phí mai táng phí số tiền 60.000.000 đồng và yêu cầu bồi thường các khoản tiền thiệt hại về tính mạng, tiền cấp dưỡng cho các con chưa thành niên của anh T1 theo quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 75/CT-VKS-P2 ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Hoàng Ngọc V về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2024/HS-ST ngày 24/7/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc V phạm tội "Giết người".

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc V 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 02/4/2024.

Áp dụng Điều 584, Điều 591, Điều 593 Bộ luật dân sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1; điểm a khoản 6 Điều 27, Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo V phải bồi thường cho gia đình bị hại những khoản sau:

4

- Tiền mai táng phí 60.000.000 đồng, đã bồi thường 30.000.000 đồng, còn 30.000.000 đồng; bị cáo có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị C.

- Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 234.000.000 đồng cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh T1 gồm: bà Lê Thị C, chị Nguyễn Thị L, cháu Bùi Thị L1, cháu Bùi Duy N, cháu Bùi Huyền C1.

- Bị cáo V phải cấp dưỡng cho cháu Bùi Duy N, sinh ngày 20/10/2014 và cháu Bùi Huyền C1, sinh ngày 08/01/2024, mỗi tháng là 1.200.000 đồng/1 cháu từ tháng 4/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 29/7/2024, người đại diện hợp pháp của người bị hại là chị Nguyễn Thị L kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo Hoàng Ngọc V.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Đại diện bị hại chị Nguyễn Thị L vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội với tính chất côn đồ, cố ý giết chết bị hại, nếu bị cáo thiện chí bồi thường cho gia đình bị hại ngay tại phiên tòa thì chị xin giảm hình phạt cho bị cáo, nếu không thì đề nghị Hội đồng xét xử tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo, cụ thể: tăng tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng của anh T1 theo mức cao nhất bằng 100 tháng lương cơ bản là 234 triệu đồng; buộc bị cáo phải cấp dưỡng nuôi các cháu Bùi Duy N, sinh ngày 20/10/2014 và cháu Bùi Huyền C1, sinh ngày 08/01/2024, mỗi tháng là 1.200.000 đồng/1 cháu từ tháng 4/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, yêu cầu bị cáo cấp dưỡng, bồi thường một lần bằng tổng số tiền 312 tháng là 374 triệu đồng; tiền tổn thất tinh thần 234 triệu đồng. Tổng cộng các khoản bồi thường là 842 triệu đồng và yêu cầu bị cáo bồi thường một lần.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi của bị cáo đê hèn, côn đồ, quyết liệt, tàn ác, dùng hung khí nguy hiểm, nhằm tước đoạt tính mạng anh T1 một cách nhanh nhất, bị cáo phạm tội đến cùng, dùng dao đâm 03 nhát vào vùng hiểm yếu trên cơ thể anh T1, đến nay gia đình bị cáo mới bồi thường cho gia đình bị hại được 05 triệu đồng vì số tiền 30 triệu đồng đã đưa nói là trả nợ 25 triệu đồng, hoàn cảnh gia đình bị hại rất khó khăn; đề nghị Hội đồng xét xử tăng hình phạt lên mức tù chung thân và tăng bồi thường đối với bị cáo Hoàng Ngọc V như đơn kháng cáo chị L đã trình bày.

* Bị cáo Hoàng Ngọc V thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết, bị cáo chấp nhận bồi thường dân sự như bản án sơ thẩm quyết định nên không kháng cáo. Nay chị L kháng cáo tăng hình phạt và tăng mức bồi thường thì quan điểm của bị cáo là: Đồng ý với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng của anh T1 với mức 234 triệu đồng, gia đình đã bồi thường được 30 triệu đồng nên tiếp tục bồi thường 204 triệu đồng nữa; số tiền 30 triệu đồng đã đưa là tiền bồi thường chứ không phải trả nợ 25 triệu đồng; số tiền vay nợ 25

5

triệu đồng sẽ thanh toán sau; về tiền bồi thường tổn thất tinh thần 234 triệu đồng nhất trí theo như bản án sơ thẩm đã quyết định; về số tiền cấp dưỡng cho 02 con của bị hại nhất trí theo bản án sơ thẩm là 1.200.000 đồng/1 tháng/1 cháu nhưng bị cáo không có khả năng bồi thường một lần mà sẽ bồi thường hàng tháng như quyết định của bản án sơ thẩm. Bị cáo sẽ trao đổi với gia đình để thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con của bị hại vào ngày 20 hàng tháng và tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại. Về hình phạt đề nghị HĐXX không tăng hình phạt đối với bị cáo.

* Chị L nhất trí việc bị cáo bồi thường thiệt hại về tính mạng của anh T1 với mức 234 triệu đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường được 30 triệu đồng còn phải bồi thường 204 triệu đồng nữa. Các nội dung khác đã kháng cáo đề nghị xem xét theo pháp luật.

* Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Nếu bị hại không tấn công bị cáo trước thì đã không xảy ra vụ án, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần cho gia đình bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc V 20 năm tù là phù hợp. Về bồi thường bị cáo đã thỏa thuận được với gia đình bị hại về bồi thường tính mạng và bồi thường tổn thất tinh thần; về cấp dưỡng nuôi con của bị hại hàng tháng bị cáo nhất trí với yêu cầu của bị hại, tuy nhiên bị cáo không có khả năng cấp dưỡng một lần như yêu cầu của đại diện bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo Điều 54 Bộ luật hình sự, áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật, không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của đại diện bị hại, giữ nguyên mức hình phạt 20 năm tù đối với bị cáo Hoàng Ngọc V.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm:

- Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Ngọc V về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc V 20 năm tù là phù hợp. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo của đại diện bị hại.

- Về bồi thường dân sự: Đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tính mạng của anh T1 số tiền 234 triệu đồng, bị cáo đã đồng ý, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện bị hại về nội dung này.

Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại về tăng hình phạt đối với bị cáo V; sửa bản án sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện bị hại về việc bị cáo bồi thường thiệt hại về tính mạng của bị hại số tiền 234 triệu đồng, được trừ 30 triệu đồng đã bồi thường còn phải bồi thường tiếp cho đại diện bị hại số tiền 204 triệu đồng. Đối với yêu cầu của chị L về bồi thường, cấp dưỡng một lần bị cáo không có khả năng thực hiện nên đề nghị HĐXX không chấp nhận, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

6

* Tại lời nói sau cùng, bị cáo Hoàng Ngọc V rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Kháng cáo của đại diện bị hại trong hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định, cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc Hoàng Ngọc V nợ của anh Bùi Duy T1 số tiền 25.000.000 đồng chưa trả nên khoảng 20h30' ngày 01/4/2024 anh T1 gọi điện cho V để đòi tiền nợ và có lời nói chửi bới và dùng tay tát, đánh V. Do bực tức vì bị anh T1 đánh nên V chạy về nhà lấy 01 con dao nhọn rồi quay lại quán S1 ở phố T, phường Q, thành phố T và dùng dao đâm nhiều nhát vào ngực, bụng và cánh tay trái anh T1. Do thương tích nặng, anh T1 đã tử vong trên đường đưa đi cấp cứu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Hoàng Ngọc V phạm tội “Giết người”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của đại diện bị hại, Hội đồng xét xử thấy:

[3.1] Về việc tăng hình phạt đối với bị cáo:

Vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân phạm tội chỉ vì mâu thuẫn chuyện vay nợ nên khi xảy ra xô xát với bị hại, bị cáo V không kìm chế, xem thường pháp luật, đã dùng đao nhọn là hung khí nguy hiểm đâm bị hại nhiều nhát khiến bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, nên cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

7

Với tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú, bị hại có một phần lỗi, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại) là có căn cứ pháp luật.

Từ những nội dung trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt 20 năm tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là phù hợp và có căn cứ pháp luật. Do đó, nội dung kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo của đại diện bị hại là không có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Đối với kháng cáo về tăng bồi thường dân sự, Hội đồng xét xử thấy:

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện gia đình bị hại yêu cầu bị cáo V bồi thường toàn bộ chi phí mai táng phí số tiền 60.000.000 đồng cho bà Lê Thị C (do bà C trực tiếp chi tiền mai táng phí), tiền tổn thất tinh thần, tiền cấp dưỡng cho các con chưa thành niên của anh Bùi Duy T1 theo quy định của pháp luật. Bị cáo V chấp nhận bồi thường tiền tổn thất tinh thần là 100 tháng lương cơ sở, 60.000.000 đồng tiền mai táng phí, tiền cấp dưỡng cho các con của bị hại theo tháng. Xét thấy việc yêu cầu của đại diện gia đình bị hại là có căn cứ và bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử sơ thẩm đã chấp nhận. Theo đó, buộc bị cáo bồi thường toàn bộ chi phí mai táng phí số tiền 60.000.000 đồng, đã bồi thường 30.000.000 đồng, còn 30.000.000 đồng; số tiền tổn thất tinh thần là 100 tháng lương cơ sở là 2.3400.000 đồng x 100 tháng = 234.000.000 đồng; tổng 2 khoản là 264.000.000 đồng.

Tuy nhiên chị L là đại diện hợp pháp của bị hại đã kháng cáo không đồng ý, chị L yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do tính mạng của anh T1 bị xâm hại bằng 234 triệu đồng; Về tiền tổn thất tinh thần nhất trí mức 234 triệu đồng; về tiền cấp dưỡng nuôi 2 con của bị hại là cháu N, cháu C1 với mức 1.200.000 đồng/ 1 tháng/ 1 cháu và các khoản bồi thường, cấp dưỡng phải được thực hiện một lần. Về nội dung này, HĐXX thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại về tính mạng anh T1 là 234.000.000 đồng nhưng trừ đi 30.000.000 đồng đã bồi thường, còn bồi thường 204.000.000 đồng, chị L đồng ý. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện của bị cáo và đại diện bị hại, không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật nên cần được công nhận.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải cấp dưỡng cho cháu Bùi Duy N, sinh ngày 20/10/2014 và cháu Bùi Huyền C1, sinh ngày 08/01/2024, mỗi tháng 1.200.000 đồng/cháu từ tháng 4/2024 đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp, có căn cứ theo quy định tại các Điều 584, Điều 591, Điều 593 Bộ luật dân sự. Bị cáo đồng ý về mức bồi thường 1.200.000đồng/1 cháu/1 tháng và nộp cho chị L vào ngày 20 hàng tháng, chị L không đồng ý và yêu cầu bị cáo bồi thường một lần cho tất cả các khoản bồi thường dân sự. Bị cáo không có khả năng bồi thường một lần nên về nội dung này, chị L căn cứ bản án có hiệu lực pháp luật để thi hành.

8

[3.3] Quá trình xét xử người kháng cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới làm thay đổi nội dung vụ án. Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo của đại diện bị hại; Về bồi thường dân sự cần công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện bị hại về việc bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại về tính mạng của bị hại số tiền là 204 triệu đồng. Các nội dung khác về bồi thường cần giữ nguyên như bản án sơ thẩm đã quyết định.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo và đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị L về việc tăng hình phạt và bồi thường, cấp dưỡng một lần là không phù hợp nên không được chấp nhận.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm sơ thẩm nên bị cáo và đại diện bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357-Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h, khoản 2, Điều 23- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại là chị Nguyễn Thị L về tăng hình phạt đối với bị cáo Hoàng Ngọc V; Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2024/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về hình phạt đối với bị cáo Hoàng Ngọc V, cụ thể như sau:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố:

Bị cáo Hoàng Ngọc V phạm tội "Giết người".

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc V 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 02/4/2024.

2. Chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện bị hại là chị Nguyễn Thị L về phần trách nhiệm dân sự; sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 141/2024/HS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về trách nhiệm dân sự, cụ thể như sau:

Áp dụng Điều 584, Điều 591, Điều 593 Bộ luật dân sự:

- Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Hoàng Ngọc V và đại diện bị hại chị Nguyễn Thị L về việc bị cáo bồi thường thiệt hại về tính mạng anh Bùi Duy T1 số tiền 234.000.000₫ (Hai trăm ba mươi bốn triệu đồng), được trừ số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) gia đình bị cáo đã bồi thường, bị cáo còn phải bồi thường

9

tiếp cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Bùi Duy T1 gồm: bà Lê Thị C, chị Nguyễn Thị L, cháu Bùi Thị L1, cháu Bùi Duy N, cháu Bùi Huyền C1 số tiền 204.000.000₫ (Hai trăm linh bốn triệu đồng).

- Công nhận sự thỏa thuận bù đắp của bị cáo Hoàng Ngọc V bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 234.000.000₫ (Hai trăm ba mươi bốn triệu đồng) cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Bùi Duy T1 gồm: bà Lê Thị C, chị Nguyễn Thị L, cháu Bùi Thị L1, cháu Bùi Duy N, cháu Bùi Huyền C1.

- Bị cáo phải cấp dưỡng cho cháu Bùi Duy N, sinh ngày 20/10/2014 và cháu Bùi Huyền C1, sinh ngày 08/01/2024, mỗi tháng là 1.200.000 đồng/ 1 cháu từ tháng 4/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

3. Về án phí: chị Nguyễn Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Đại diện bị hại (theo đ/c);
  • - Lưu HS, PHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ông Thân T

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 900/2024/HS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm về tội "giết người"

  • Số bản án: 900/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger