Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC, TP. HÀ NỘI

Bản án số:90/2023/HS-ST

Ngày 28/11/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Đức Cơ – Phó hiệu trưởng Trường PTTH Mỹ Đức C

Ông Nguyễn Tiến Bộ – Cán bộ nghỉ hưu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Quang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nhâm - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2023/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:75/2023/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: NGUYỄN THỊ THƠM, sinh ngày 29/6/2006; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ngách G, ngõ B N, khu A, Phường B, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Văn C và bà Trịnh Thị N; Chồng, con: Chưa: tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 114 lập ngày 18/4/2023 tại Công an huyện M.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: LÊ CÔNG BẰNG, sinh năm 1984; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: đội 2, tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Lê Văn C1 và bà Nguyễn Thị H; Vợ Lê Thị Quế C2; con có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009: tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 113 lập ngày 18/4/2023 tại Công an huyện M.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại:

1. Chị Nguyễn Phương L, sinh năm 1999, Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Trú tại: thôn N, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

2. Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/6/2006 (đồng thời là bị cáo trong vụ án), Có mặt.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: ngách G, ngõ B N, khu A, Phường B, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo và đồng thời là bị hại T: Bà Trịnh Thị N, sinh năm 1977 và ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965 (là bố mẹ đẻ của T), Bà N có mặt. Ông C vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đều hộ khẩu: ngách G, ngõ B N, khu A, Phường B, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

- Người bào chữa cho bị cáo và đồng thời là bị hại Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/6/2006 là: Ông Nguyễn Ngọc C3 – Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh số 7 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H, Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h30 phút ngày 04/12/2022, tại đường D, khu vực đối diện cây xăng T4, thuộc tổ dân phố T, TT Đ, huyện M, TP Hà Nội xảy ra vụ tai nạn giao thông do Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/6/2006, trú tại: Khu A, phường B, TP M, tỉnh Quảng Ninh, điều khiển xe mô tô HONDA VISION, màu trắng, BKS: 21B1-849.45 chở sau Nguyễn Phương L, sinh năm 1999, trú tại: Thôn N, xã G, TP Y, tỉnh Yên Bái, đi hướng từ thị trấn Đ đi xã Đ theo đường tỉnh lộ 419. Khi đi đến vị trí xe ô tô BKS: 29F-010.39 do Lê Công B, sinh năm 1984, trú tại: TDP V, TT Đ, huyện M, TP Hà Nội đang đỗ bên đường thì đâm vào đuôi xe của B, xảy ra tai nạn. Hậu quả: T và L bị thương được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện M. Sau đó, T và L do thương tích nặng được chuyển đến bệnh viện Q - H để điều trị. Xe máy hư hỏng nặng, xe ô tô bị hư hỏng phần đuôi xe.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Khám nghiệm hiện trường tiến hành theo chiều hướng từ ngã 5 Tế T đi xã Đ, lấy mép bên phải làm chuẩn. Lấy cột đèn điện VMD/10 làm mốc chuẩn.

- Mặt đường đổ nhựa áp phan bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường rộng 17m, lề đường bên phải là 2m, lề đường bên trái là 2m.

- Vết số 1: Vết máu diện (20 x 15)cm, tâm cách mép đường chuẩn 2,2m.

- Vết số 2: Vết dầu loang diện (55 x 35)cm, tâm cách mép đường chuẩn 2,6m, tâm vết số 2 cách tâm vết số 1 là 1,4m.

- Vết số 3: Vết dầu loang diện (45 x 25)cm, tâm cách mép đường chuẩn 1,6m, tâm vết số 3 cách tâm vết số 2 là 1,1m.

- Vết số 4: Vùng mảnh vỡ trong diện (4,5 x 3,7)m, tâm cách mép đường chuẩn 3,1m, tâm vết số 4 cách tâm vết số 3 là 1,5m.

- Vết số 5: Vết máu loang trong diện (48 x 40)cm, tâm cách mép đường chuẩn 2,1m, tâm vết số 5 cách tâm vết số 4 là 0,9m.

- Vết số 6: Vị trí xe mô tô 21B1 – 849.45 đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng xã Đ, đuôi xe hướng TT Đ, trục sau xe cách mép đường chuẩn 1,2m, trục trước xe cách mép đường chuẩn 1,6m. Trục trước xe cách tâm vết số 5 là 0,5m.

- Vết số 7: Vùng đất rơi vãi trong diện (2 x 0,55)m, tâm cách mép đường chuẩn 1,9m, tâm vết số 7 cách trục trước xe mô tô là 0,9m.

- Vết số 8: Vị trí xe ô tô 29F – 010.39 đỗ bên phải đường, đầu xe hướng xã Đ, đuôi xe hướng TT Đại Nghĩa, trục sau bên phải cách mép đường chuẩn 0,65m, trục trước bên phải cách mép đường chuẩn 0,6m. Trục sau bên phải ô tô cách tâm vết số 7 là 1,7m.

- T1 vết số 1 cách cột đèn mốc khóa chuẩn VMD/10 là 6,3m.

- Trục sau xe mô tô vết số 6 cách cột đèn khóa chuẩn VMD/10 là 6,7m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô HONDA VISION, màu trắng, BKS: 21B1-849.45

- Không có hai gương chiếu hậu (trái, phải).

- Ốp nắp nhựa sau tay lái dập vỡ, rách nhựa diện (32 x 31)cm.

- Ốp nhựa nắp trước tay lái bật rời chốt hãm cố định đẩy rời về phía trước.

- Ở giữa mặt đèn chiếu sáng có vết trượt bám dính bụi đất, chiều hướng phải qua trái diện (6 x 6)cm).

- Khuyết hoàn toàn: Ốp nhựa phía trước đầu xe, ốp nhựa hai bên đầu xe, dè chắn bùn phía trước.

- Đèn xi nhan trái, phải phía trước dập vỡ hoàn toàn.

- Khung xe phía trước, càng xe biến dạng cong vênh đẩy về sau tiếp giáp đầu yên xe.

- Má vành bên phải bánh xe trước vị trí từ nan hoa thứ 2 đến 3 theo chiều kim đồng hồ biến dạng cong vênh, rách kim loại đẩy về sau, ra ngoài dài 13cm rộng 2,5cm. Má vành bên trái vị trí từ nan hoa số 2 đến 3 theo chiều kim đồng hồ biến dạng cong vênh đẩy ra ngoài dài 13cm. Lốp xe bị rách cao su chéo từ phải qua trái từ trước về sau dài 11cm.

- Bàn để chân người lái biến dạng cong vênh dồn từ trước về sau.

- Ốp nhựa phía dưới gầm xe biến dạng cong vênh đẩy về sau.

- Ốp nhựa phía sau đầu xe dập vỡ mất nhựa phức tạp còn lại mảnh nhựa diện (40 x 34)cm.

- Ốp nhựa phía dưới đầu yên xe phía trước và ốp nhựa hai bên thân xe bật rời chốt hãm cố định.

- Gãy khuyết tay phanh bên phải.

Ngoài ra không phát hiện dấu vết nào khác.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô FORD TRANSIT, màu bạc, loại xe 16 chỗ, BKS: 29F – 010.39

- Đầu ngoài bên trái ốp nhựa ba đờ sốc sau dập vỡ nhựa biến dạng đẩy vào bên trong, lên trên diện (28 x 33)cm, trên bề mặt rải rác vết trượt xước bong tróc sơn bám dính chất màu đen, chiều hướng từ trên xuống dưới diện (19x16)cm.

- Đầu ngoài bên trái khung kim loại bậc lên xuống phía sau cong vênh biến dạng đẩy từ sau về trước, từ dưới lên trên dài 24 cm.

- Cánh cửa sau bên trái cong vênh biến dạng đẩy từ sau về trước.

+ Cạnh dưới bên trái biến dạng cong vênh đẩy từ sau về trước, trượt xước bong tróc sơn diện (32 x 17)cm.

+ Biển kiểm soát 29F – 010.39 biến dạng cong vênh đẩy từ sau về trước.

+ Ở giữa cạnh dưới hốc gắn biển kiểm soát có vết biến dạng đẩy từ sau về trước, bong tróc sơn diện (3 x 2,5)cm.

+ Bên trái biển kiểm soát có vết trượt bám dính bụi đất diện (20 x 8)cm.

+ Góc trên bên trái hốc gắn biển kiểm soát biến dạng cong vênh bong tróc sơn diện (9 x 11)cm.

+ Vỏ ốp nhựa đèn soi bên phải biển kiểm soát mất hoàn toàn.

+ Kính chắn gió cánh cửa phía sau bên trái vỡ hoàn toàn diện (74x63)cm.

Ngoài ra không phát hiện dấu vết nào khác.

2. Kết quả trưng cầu giám định; việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

- Kết quả trưng cầu giám định:

Ngày 14/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện M, TP Hà Nội ra Quyết định Trưng cầu giám định số 250/QĐ - CSĐT, trưng cầu Viện Khoa học Hình sự - Bộ C4 giám định tốc độ, dấu vết va chạm và vị trí va chạm.

Ngày 28/12/2022, V - Bộ C4 ra bản kết luận giám định số 8668/KL – KTHS, kết luận:

“1- Dấu vết trượt xước mất sơn màu ghi bạc, bám dính chất màu nâu (dạng đất), màu trắng (dạng sơn) ở mặt ngoài bên trái chắn đà phía sau xe ô tô biển số 29F – 010.39 có chiều từ sau về trước, từ trên xuống dưới, phù hợp với dấu vết trượt xước mất đất màu nâu, mất sơn màu trắng, bám dính chất màu ghi bạc (dạng sơn) ở mặt ngoài phía trên chắn bùn trước xe mô tô biển số 21B1 – 849.45. Dấu vết này ở xe mô tô biển số 21B1 – 849.45 có chiều từ trước về sau.

- Dấu vết biến dạng, hằn, mất sơn màu ghi bạc ở mặt ngoài bên trái phía dưới cửa phía sau xe ô tô biển số 29F – 010.39 có chiều từ sau về trước, phù hợp với dấu vết trượt xước bám dính chất màu ghi bạc (dạng sơn) ở mặt ngoài đầu ốc bắt giữ bình ắc quy phía trước xe mô tô biển số 21B1 – 849.45 có chiều từ trước về sau.

2. Căn cứ vào hồ sơ vụ tai nạn giao thông gửi giám định: Xác định vị trí va chạm trên mặt đường giữa xe ô tô biển số 29F – 010.39 và xe mô tô biển số 21B1 – 849.45 thuộc phần đường bên phải chiều Tế Tiêu đi Đ.

3. Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 21B1 – 849.45 trước khi xảy ra va chạm.”

Ngày 03/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện M, TP Hà Nội ra Quyết định Trưng cầu giám định số 15, số 17/QĐ-CQĐT, trưng cầu Trung tâm P giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe và cơ chế hình thành thương tích của Nguyễn Thị T và Nguyễn Phương L.

Ngày 22/3/2023, Trung tâm P ra bản kết luận giám định pháp y thương tích số 326/GĐ-TTPY đối với thương tích của Nguyễn Thị T, kết luận:

“1. Các sẹo vết thương, vết mổ, vết dẫn lưu: 25,4%. 2. Gãy xương đùi trái: 21%. 3. Gãy xương đùi phải: 21%. 4. Gãy hai xương cẳng chân trái: 16%. 5. Gãy thành xoang hàm hai bên: 10%. 6. Gãy xương mũi hai bên: 09%. 7. Gãy thành hốc mắt hai bên: 07%. 8. Gãy cung tiếp gò má hai bên: 15,3%. 9. Gãy ngành ngồi mu hai bên và gãy ngành chậu mu bên trái: 29,5%. 10. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định ra viện. 11. Cơ chế hình thành thương tích: Do va đập với vật tày, tày có cạnh gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 82% (Tám mươi hai phần trăm). Tính theo phương pháp cộng lùi.”

Ngày 22/3/2023, Trung tâm P ra bản kết luận giám định pháp y thương tích số 327/GĐ-TTPY đối với thương tích của Nguyễn Phương L, kết luận:

“1. Các sẹo vết thương, vết mổ, vết dẫn lưu, vết sây sát: 16,23%. 2. Xuất huyết dưới nhện trái – thái dương phải đã hết: 08%. 3. Tràn dịch màng phổi hai bên: 7,85%. 4. Đụng dập nhu mô phải hai bên: 10%. 5. Chấn thương thận độ 1: 02%. 6. Gãy mỏm quạ xương bả vai phải: 06%. 7. Gãy ngành ngồi mu, chậu mu trái: 20,79%. 8. gãy 1/3 giữa xương đùi phải: 21%. 9. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định ra viện. 10. Cơ chế hình thành thương tích: Do va đập với vật tày, tày có cạnh gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 63% (Sáu mươi ba phần trăm). Tính theo phương pháp cộng lùi.”

Kết quả xét nghiệm định lượng Ethanol (cồn) trong máu của: Nguyễn Thị T là 38.25 mg/dL lúc 01 giờ 58 phút ngày 05/12/2022 (3,5 giờ sau tai nạn); của Nguyễn Phương L 47.81 mg/dL lúc 01 giờ 58 phút ngày 05/12/2022 (3,5 giờ sau tai nạn); của Lê Công B là 0.000mg/L lúc 00 giờ 06 phút ngày 05/12/2022 (1,5 giờ sau tai nạn).

- Kết quả định giá tài sản:

Ngày 27/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện M, TP Hà Nội ra Yêu cầu định giá tài sản số 03 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M tiến hành định giá tài sản các chi tiết, bộ phận của phương tiện bị hư hỏng do tai nạn.

Ngày 03/02/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M ra bản Kết luận định giá tài sản số 06 kết luận:

“1. Các chi tiết bộ phận bị hỏng của xe mô tô BKS: 21B1- 849.45; Nhãn hiệu Honda, Số loại: Vission; Số khung 5826JY010539; Số máy JF86E0026106; Màu sơn: Trắng nâu đen có giá trị là 4.386.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm tám mươi sáu nghìn đồng chẵn).

2. Các chi tiết bộ phận bị hỏng của xe ô tô BKS: 29F-010.39; Nhãn hiệu Ford, Số loại: Transit; Số khung RL3MLTGMCGCR42897; Số máy G3P08670DURATORQ4D243H; Màu sơn: Bạc có giá trị là 6.012.000 đồng (Sáu triệu, không trăm mười hai nghìn đồng chẵn).”

- Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

- Xe ô tô nhãn hiệu FORD TRANSIT; Màu bạc; Loại xe 16 chỗ; BKS: 29F -010.39, số máy: G3P08670DURATORQ4D243H, số khung: RL3MLTGMCGCR42897.

Kết quả xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe ô tô trên do Lê Công B, sinh năm 1984, trú tại: TDP V, TT Đ, huyện M, TP Hà Nội là chủ sở hữu. Kết quả tra cứu xe vật chứng, chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng của vụ án khác.

- Xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng, BKS: 21B1-849.45, số máy: JF86E0026106, số khung: 5826JY010539. Kết quả xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe mô tô trên do Nguyễn Thị T2, sinh năm 1974, trú tại: Thôn N, xã G, TP Y, tỉnh Yên Bái (mẹ của Nguyễn Phương L) là chủ sở hữu. Kết quả tra cứu xe vật chứng, chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng của vụ án khác.

Quá trình điều tra làm rõ:

Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 04/12/2022, Lê Công B điều khiển xe ô tô FORD TRANSIT, màu bạc, loại xe 16 chỗ, BKS: 29F-010.39 đi từ nhà ở tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội theo đường tỉnh lộ 419 đến TDP T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội để đón khách đi du lịch S. Khi đi đến phía đối diện cây xăng T4 thuộc tổ dân phố T, thị trấn Đ, B điều khiển xe ô tô đỗ ở phần đường bên phải theo chiều đi, bánh trước bên phải cách lề đường phải 60cm, bánh sau bên phải cách lề đường phải 65cm, Bằng tắt máy và ngồi trên xe chờ khách ra. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị TNguyễn Phương L sau khi uống rượu tại một quán ăn đêm ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, TP Hà Nội. Thơm điều khiển xe mô tô HONDA VISION, màu trắng, BKS: 21B1-849.45 chở sau Nguyễn Phương L đi hướng từ thị trấn Đ đi xã Đ theo đường tỉnh lộ 419. Khi đi đến vị trí xe ô tô BKS: 29F-010.39 đang đỗ bên đường thì đâm vào đuôi xe của B, xảy ra tai nạn. Hậu quả: T và L bị thương được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa huyện M. Do thương tích nặng T và L được chuyển đến bệnh viện Q - H để điều trị.

Kết quả tra cứu xác định: Lê Công B có giấy phép lái xe ô tô hạng D cấp ngày 30/3/2021 có giá trị đến ngày 30/3/2026. Nguyễn Thị T chưa được cấp giấy phép lái xe mô tô do chưa đủ 18 tuổi.

Đối với xe mô tô HONDA VISION, màu trắng, BKS: 21B1-849.45 đã trả cho ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1973 trú tại Thôn N, xã G, TP Y, tỉnh Yên Bái là chồng của bà Trần Thị T3 và là bố của Nguyễn Phương L.

Đối với xe ô tô FORD TRANSIT, màu bạc, loại xe 16 chỗ, BKS: 29F – 010.39 đã trả cho chủ sở hữu là anh Lê Công B.

Ngày 07/10/2023, Nguyễn Phương L có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Lê Công B, Nguyễn Thị T và không yêu cầu B, T phải bồi thường bất cứ khoản chi phí nào.

Ngày 08/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị T và người đại diện có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Lê Công B và không yêu cầu B phải bồi thường bất cứ khoản chi phí nào.

Đại diện Viện kiểm sát, tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với hai bị cáo. Tại cáo trạng số: 88/CT- VKS - HS ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố:

Bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Lê Công B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Thị T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Lê Công B 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo T có quan điểm: Bị cáo T đồng thời là bị hại có thương tích nặng, hiện nay vẫn phải điều trị và đi lại khó khăn. Sau khi phạm tội bị cáo đã khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc hộ cận nghèo, bị cáo học hết lớp 9 phải nghỉ học đi làm phụ giúp kinh tế gia đình; bị cáo được người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và cho bị cáo T được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo được ở ngoài tiếp tục điều trị, học tập, lao động phụ giúp gia đình. Bị cáo T và người đại diện cũng có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo B và tại phiên toà có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T và người đại diện không yêu cầu bị cáo B phải bồi thường gì thêm nên là căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T bà N đề nghị: Toà án xem xét do sự việc xảy ra tai nạn giao thông ngoài ý muốn. Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do T điều khiển xe máy trong tình trạng uống rượu say, không có giấy phép lái xe, không làm chủ được tay lái chở chị L đâm vào phía sau xe ô tô của anh Lê Công B. Bị cáo Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/6/2006, hiện nay chưa đủ 18 tuổi và gia đình thuộc hộ cận nghèo, thương tích của T nặng nên mong Toà án xét xử giảm nhẹ hình phạt cho T để cháu có cơ hội sửa chữa. Gia đình không yêu cầu Lê Công B phải bồi thường về thiệt hại về sức khoẻ của Nguyễn Thị T. Gia đình vẫn giữ nguyên quan điểm xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ mức hình phạt nhẹ nhất đối với Lê Công B.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo T khai báo toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận bị cáo được chị L chở đến quán ăn đêm và cùng uống hết 1 chai rượu. Sau đó do chị L bị say rượu hơn bị cáo nên bị cáo đã tự lấy xe xe mô tô VISON, BKS: 21B1-849.45 để chở chị L về. Do bị cáo cũng say rượu, không có giấy phép lái xe và không làm chủ được tốc độ đã đâm vào phần đuôi xe ô tô do anh B đỗ dưới lòng đường gây tổn thương sức khoẻ của chị L là 63%. Bị cáo đã được thông báo kết luật giám định thương tích, giám định tài sản và kết quả xét nghiệm định lượng Ethanol (cồn) trong máu của bị cáo là chính xác. Bị cáo B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bị cáo có lỗi vô ý do cẩu thả đỗ xe không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ đã gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông dẫn đến tai nạn, hậu quả tổn hại sức khỏe của L và T là 145%. Bị cáo đã được cơ quan cảnh sát điều tra thông báo kết luật giám định thương tích, giám định tài sản. Hai bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

- Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về việc vắng mặt của người bị hại chị L và người đại diện theo pháp luật của bị cáo T là ông C. Người bị hại chị L có đơn xin xét xử vắng mặt không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T, bị cáo B. Ông Nguyễn Văn C là bố đẻ của bị cáo T có đơn xin xét xử vắng mặt, vì trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử có mẹ đẻ của bị cáo T là bà Trịnh Thị N là người đại diện, có trợ giúp viên pháp lý là ông Nguyễn Ngọc C3 bào chữa nên ông xin vắng mặt tại phiên toà. Ông đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T để bị cáo có cơ hội sửa chữa làm lại cuộc đời. Vì vậy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử hành xét xử vụ án theo Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, lời khai của người bị hại; biên bản khám nghiệm hiện trường, dấu vết, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào tối 04/12/2022 Nguyễn Thị TNguyễn Phương L cùng nhau đi ăn và sử dụng rượu tại quán ăn đêm thuộc tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M xong. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, do chị L bị say rượu hơn nên Nguyễn Thị T đã tự lấy và điều khiển xe mô tô VISON, BKS: 21B1-849.45 chở Nguyễn Phương L ngồi sau đi hướng từ thị trấn Đ đi xã Đ. Khi đi đến khu vực trước cây xăng thuộc tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội, do không có giấy phép lái xe, sử dụng rượu và không làm chủ được tốc độ nên xe mô tô do T điều khiển đã đâm vào phần bên trái đuôi xe ô tô BKS: 29F – 010.39 do Lê Công B điều khiển đang đỗ bên phải đường không đúng quy định, bánh xe phía trước gần nhất cách lề đường 0,6m, bánh xe phía sau gần nhất cách lề đường 0,65m, theo chiều từ thị trấn Đ đi xã Đ. Hậu quả, Nguyễn Thị T bị tổn hại sức khỏe 82%, Nguyễn Phương L bị tổn hại sức khỏe 63%. Tổng tổn hại sức khỏe của L và T là 145%.

Kết quả xét nghiệm lúc 01 giờ 58 phút ngày 05/12/2022 lấy máu của Nguyễn Thị T cho kết quả: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu 38.25 mg/dL (3,5 giờ sau tai nạn). Lấy máu của Nguyễn Phương L cho kết quả: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu 47.81 mg/dL (3,5 giờ sau tai nạn).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đã vi phạm khoản 8 Điều 8 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia: “8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”) và vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ: “9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”. Đồng thời vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT – BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G (Điều 5: Các trường hợp phải giảm tốc độ: Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: 1. ... có chướng ngại vật trên đường...). Hậu quả gây thiệt hại sức khỏe của chị Nguyễn Phương L 63%.

Như vậy: Hành vi của Nguyễn Thị T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Lê Công B có hành vi điều khiển đỗ xe ô tô dưới lòng đường bánh xe phía trước gần nhất cách lề đường 0,6m, bánh xe phía sau gần nhất cách lề đường 0,65m. Đã vi phạm khoản 1, Điều 19 Luật giao thông đường bộ (Điều 19. Dừng xe, đỗ xe trên đường phố: Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường phố ...1. Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông...). Hậu quả gây thiệt hại tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe của Nguyễn Phương LNguyễn Thị T là 145%.

Như vậy: Hành vi của Lê Công B đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, bởi hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng khi tham gia giao thông, gây tổn hại sức khỏe cho người khác. Lỗi trong vụ án phần lớn do bị cáo T, tuy chưa đủ 18 tuổi, không có giấy phép lái xe theo quy định, sử dụng rượu điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ nên dẫn đến không làm chủ được tốc độ gây thiệt hại cho chị Nguyễn Phương L bị tổn hại sức khỏe 63%. Bị cáo B có giấy phép lái xe ô tô hạng D nhưng có lỗi do cẩu thả tham gia giao thông không tuân thủ quy định về dừng xe, đỗ xe theo quy định của Luật giao thông đường bộ, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông dẫn đến tai nạn, hậu quả gây tổn hại sức khỏe của L và T là 145%. Vì vậy, lỗi trong vụ án này là hỗn hợp nên cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả các bị cáo gây ra.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hai bị cáo không có tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải; nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự và đều được người bị hại, đại diện của người bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với bị cáo Nguyễn Thị T là người chưa thành niên phạm tội, tại thời điểm bị cáo gây tai nạn giao thông bị cáo mới 16 tuổi 5 tháng 5 ngày; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ cận nghèo theo Quyết định số 339/QĐ-UBND ngày 12/12/2022 của UBND phường B; bị cáo bị thương tích nặng, tổn hại sức khỏe 82%, hiện nay đi lại khó khăn. Bị cáo Lê Công B có bố là ông Lê Văn C1 và mẹ bà Phạm Thị H1 đều tham gia kháng chiến. Ông Lê Văn C1 được tặng huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba. Đây là những tình tiết giảm nhẹ đối với hai bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo T là người chưa thành niên phạm tội áp dụng thêm Điều 90, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự). Từ những nhận định trên xét thấy: Các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo T và bị cáo B được hưởng biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo nên đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị L không yêu cầu bị cáo T và bị cáo B phải bồi thường gì thêm về sức khoẻ cũng như thiệt hại về tài sản và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt đối với hai bị cáo; Bị hại T và người đại diện không yêu cầu bị cáo B phải bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo B nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với các tài sản thu giữ Cơ quan điều tra Công an huyện M đã trả lại gồm:

Xe mô tô HONDA VISION, màu trắng, BKS: 21B1-849.45 đã trả cho ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1973 trú tại Thôn N, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái là chồng của bà Trần Thị T3 và là bố của Nguyễn Phương L. Ông L1 nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường về thiệt hại tài sản nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Xe ô tô FORD TRANSIT, màu bạc, loại xe 16 chỗ, BKS: 29F – 010.39 đã trả cho chủ sở hữu là Lê Công B và 01 Giấy phép lái xe hạng D số [...] cấp ngày 30/3/2021 cho Lê Công B. Bị cáo B nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường về thiệt hại tài sản nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với Nguyễn Phương L chủ xe mô tô nhưng do Nguyễn Thị T thấy L say rượu nên đã chủ động lấy xe mô tô chở L tham gia giao thông gây tai nạn nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý L đã giao xe cho T là có căn cứ.

[6]. Về án phí: Bị cáo B phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo T thuộc hộ cận nghèo và tại phiên toà đề nghị được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại, người đại diện và người bào chữa cho bị cáo T có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị TLê Công B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

  2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Thị T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2023.

    Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Lê Công B 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2023.

    Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho UBND Phường B, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

    Giao bị cáo Lê Công B cho UBND thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

    Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo B phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị T.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị T, bị cáo Lê Công B; bà Trịnh Thị N đại diện theo pháp luật của bị cáo T; Người bào chữa của bị cáo T có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28 tháng 11 năm 2023. Người bị hại chị Nguyễn Phương L, ông Nguyễn Văn C đại diện theo pháp luật của bị cáo T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận :

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - CA huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - Bị cáo; Người bị hại; người đại diện
  • theo pháp luật của bị cáo; Người bào
  • chữa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 90/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger