|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HSST
Ngày 27 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Ngọc Quý
Ông Nguyễn Trường Sinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Anh Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức P - sinh ngày 11 tháng 4 năm 2005 tại huyện V - tỉnh Khánh Hòa; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức P1, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức L – sinh năm: 1941; trú tại: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Phạm Xuân S – sinh năm: 1958; trú tại: Thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 18/6/2024, tổ tuần tra Đồn Biên phòng Đ – Bộ đội Biên phòng tỉnh K phối hợp với Công an xã V, Công an xã V tuần tra bảo vệ địa bàn khu vực 03 xã T. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thì Tổ tuần tra phát hiện Nguyễn Đức P đang ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, biển số: 79F7-1866, đang dừng bên lề đường có dấu hiệu nghi vấn liên quan đến chất ma túy nên Tổ tuần tra yêu cầu Nguyễn Đức P về trụ sở Công an xã V để làm việc. Tại trụ sở Công an xã V, Nguyễn Đức P tự nguyện lấy từ trong túi quần Jean dài, màu xám, phía trước bên phải mà P đang mặc 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước (01 x 04)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) giao nộp cho Tổ tuần tra. Tổ tuần tra tiến hành lập Biên bản sự việc, niêm phong 01 (một) đoạn ống hút nói trên vào phong bì có kí hiệu “A”, trên phong bì có chữ ký của Nguyễn Đức P, những người tham gia và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã V.
Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Đức P khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 18/6/2024, Nguyễn Đức P điều khiển xe mô tô biển số: 79F7-1866 đi đến khu vực thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa để mua ma túy. Tại đây, P gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch), P hỏi mua 01 tép ma túy đá thì người này đồng ý bán với giá tiền 200.000 đồng. Phổ đưa cho người này 200.000 đồng, sau khi nhận tiền từ P, người này đưa cho P 01 tép ma túy đá. Sau đó P bỏ tép ma túy này vào túi quần Jean phía trước, bên phải mà mình đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số: 79F7-1866 đến khu vực thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa để tìm nơi sử dụng. Khi đang đứng mua nước uống thì P bị Tổ tuần tra phát hiện đưa về trụ sở Công an xã V để làm việc, tại đây P đã tự nguyện giao nộp 01 tép ma túy đá và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận giám định số: 354/2024/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4607g (không phẩy bốn sáu không bảy gam), loại Methamphetamine.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Đức P vào ngày 18/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được thông tin và lai lịch cụ thể của người này nên không có căn cứ để tiếp tục xác minh, truy tìm.
- Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Đức P dùng xe mô tô biển số 79F7-1866 để đi mua ma túy. Qua xác minh xe mô tô này là của ông Nguyễn Đức L làm chủ sở hữu, vào ngày 18/6/2024 P mượn xe này để đi mua nước uống, việc P dùng xe mô tô trên để đi mua ma túy ông L không biết nên không có cơ sở để thu giữ và ông L đã nhận lại xe trên, không có ý kiến gì yêu cầu gì.
- Vật chứng vụ án:
- + Mẫu vật ký hiệu A đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
- + 01 quần Jean dài, màu xám, bị thủng nhiều chỗ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE, màu trắng - vàng, số imel: 3561 1209 9206 008, 3561 1209 9206 00, bên trong có gắn sim số 0374336841. Đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Đức P.
- + 01 xe mô tô biển số: 79F7-1866. Đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Đức L.
- Tại bản Cáo trạng số: 92/CT-VKSVN ngày 10 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
- Tại phiên tòa:
- + Bị cáo Nguyễn Đức P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
- + Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù. Không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng bị cáo không có ý kiến hoặc yêu cầu gì về sự vắng mặt của họ và lời khai của họ có tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
[3] Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức P đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản Cáo trạng số: 92/CT-VKSVN ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với Biên bản sự việc ngày 18/6/2024, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, tại thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Đức P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,4607 gam (không phẩy bốn sáu không bảy gam) ma túy loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cá nhân.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Hành vi tàng trữ trái 0,4607 gam (không phẩy bốn sáu không bảy gam) ma túy loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Nguyễn Đức P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện cho tệ nạn ma túy phát triển. Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật vẫn mua về tàng trữ để sử dụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
* Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, bị cáo không có nghề nghiệp, thu thập ổn định lại không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức P.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Đức L làm chủ sở hữu xe mô tô biển số: 79F7-1866, vào ngày 18/6/2024 P mượn xe này để đi mua nước uống, việc P dùng xe mô tô trên để đi mua ma túy ông L không biết, ông Nguyễn Đức L đã nhận lại xe mô tô biển số: 79F7-1866 và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Nguyễn Đức P
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xét việc bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo Nguyễn Đức P với ông Nguyễn Đức L.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Khánh Hòa;
- - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
- - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
- - VKSND huyện Vạn Ninh;
- - Công an huyện Vạn Ninh;
- - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh;
- - Bị cáo;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- - Hồ sơ THA;
- - Lưu: VT, AV.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đỗ Ngọc Quý |
Nguyễn Ngọc Ảnh |
|
Nguyễn Trường Sinh |
Bản án số 90/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 90/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Nguyễn Đức P - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. - Về trách nhiệm dân sự: Không xét việc bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo Nguyễn Đức P với ông Nguyễn Đức L. - Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). - Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
