|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2023/HS-ST Ngày 26 - 10 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Chu Minh N, sinh năm 1995; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn T, sinh năm 1972 và bà Lâm Thị T1, sinh năm 1973; vợ là Lâm Nhật L, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án: Ngày 14/01/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 45 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 29/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 09/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 42 tháng tù. Đến ngày 08/02/2018 chấp hành xong hình phạt tù.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
- - Bị hại: Anh Trần Văn K, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
-
- Người làm chứng:
- Anh Lã Viết Đ, sinh năm 1988; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1987; vắng mặt.
- Anh Trần Văn H, sinh năm 2003. vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu sài, Nguyễn Văn L1 rủ Chu Minh N (đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích) đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền, N đồng ý. Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 02/7/2023, L1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 18B2-451.15 chở Năng từ chợ C, xã H, huyện H đi theo Tỉnh lộ 488C đến xã H, huyện H. Khi đến khu vực xóm N, xã H, phát hiện nhà anh Trần Văn K để 01 chiếc máy cắt nhãn hiệu Maktec MT230 trước nhà không có người trông coi nên L1 điều khiển xe dừng lại đối diện nhà anh K bên kia đường đứng cảnh giới để N đi bộ vào lấy trộm chiếc máy cắt rồi mang ra xe Lực chờ sẵn. Sau đó L1 điều khiển xe chở N mang chiếc máy cắt vừa chiếm đoạt được đến cửa hàng sửa chữa điện dân dụng của anh Lã Viết Đ bán được 400.000 đồng rồi cùng nhau ăn tiêu hết. Đến ngày 18/7/2023, Chu Minh N đến Công an huyện H đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Anh Lã Viết Đ tự nguyện giao nộp chiếc máy cắt đã mua của N và xin tự khắc phục số tiền 400.000 đồng, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐG ngày 24/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Chiếc máy cắt nhãn hiệu Maktec MT230 tại thời điểm định giá có giá là 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số 93/CT-VKSHH ngày 30/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Chu Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng như bản cáo trạng số 93/CT-VKSHH ngày 30/9/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Chu Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Chu Minh N từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có công việc ổn định, kinh tế khó khăn. Về trách nhiệm dân sự, không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Trong phần tranh luận: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 02/7/2023 tại khu vực xóm N, xã H, huyện H; Chu Minh N và Nguyễn Văn L1 đã có hành vi lén lút vào nhà anh Trần Văn K trộm cắp 01 chiếc máy cắt nhãn hiệu Maktec MT230 trị giá là 1.100.000 đồng, sau đó mang đi bán lấy được 400.000 đồng rồi cùng nhau ăn tiêu hết. Do Chu Mạnh N1 đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản tại Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Đã bị kết án về tội này ... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”
[3] Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Chu Mạnh N1 đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác; gây mất trật tự công cộng; ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do cần tiền ăn tiêu cá nhân đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bản thân bị cáo đã ba lần bị Toà án kết án phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân. Vì vậy, cần xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng đã được áp dụng là tình tiết định tội nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Tòa án kết án phạt tù về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi tội phạm bị phát hiện đã tự đến Công an huyện H để đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về áp dụng hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự; tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn, có con nhỏ đang phải nuôi dưỡng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc máy cắt trên cho bị hại là anh Trần Văn K, sau khi nhận lại tài sản anh K không có đề nghị gì về phần dân sự và đến nay không ai có yêu cầu về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát 18B2 - 451.15 là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn H, anh H không biết Nguyễn Văn L1 mượn xe để chở Chu Minh N đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không tạm giữ, xử lý là phù hợp.
[9] Đối với hành vi của Nguyễn Văn L1 đã rủ Chu Minh N cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng. Xét thấy, L1 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản, do đó hành vi của Nguyễn Văn L1 không đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản nên Công an huyện H xử phạt hành chính là phù hợp pháp luật.
[10] Đối với anh Lã Viết Đ đã mua chiếc máy cắt của Chu Minh N nhưng không được hứa hẹn, bàn bạc từ trước và không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý bằng pháp luật.
[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[12] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Chu Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Chu Minh N 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 07 năm 2023.
-
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Buộc bị cáo Chu Minh N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Trung Kiên |
Bản án số 90/2023/HS-ST ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 90/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Minh N- Trộm cắp tài sản
