Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HS-PT

Ngày 26-7-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng

Các Thẩm phán: Ông Trần Thanh Tòng

Bà Phạm Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Lê Anh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 44/2024/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo: Lê Anh T, sinh ngày 16-9-1973, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị T1; vợ: bà Phạm Thị Cẩm B (ly hôn), con có 02 người; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/02/2024 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: anh Đỗ Văn H1, sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 16 giờ ngày 29-11-2023, bị cáo Lê Anh T cùng anh Lê Thanh X tổ chức uống rượu tại nhà anh X; khoảng 18 giờ cùng ngày thì T mượn anh X 1.000.000 đồng đi đến nhà chị Phạm Thị Cẩm B để cho cháu Lê Thị Thảo L, là con chung của T và chị B. Khi đến thấy nhà đóng cửa nên T đi vòng ra phía sau thấy cháu L; lúc này, anh Đỗ Văn H1 điều khiển xe mô tô đến nhà chị B để giao thịt bò. T thấy anh H1 nên hỏi “Ông là ai, sao lại ở nhà chị B” thì hai bên xảy ra cự cãi. T dùng tay trái đánh vào vùng mặt anh H1, anh H1 đưa tay lên đỡ, đồng thời đẩy lùi xe ra mái hiên nhà, thì T tiếp tục dùng chân trái đạp làm ngã xe, rồi hai bên xô đẩy nhau. Lúc này, chị B chạy đến ôm T lại, T vùng vẫy thoát ra rồi chạy đến quầy bán thịt của chị B, lấy 01 cây dao bằng kim loại dài 43,5cm (lưỡi dao dài 29,5cm, 01 cạnh sắc, mũi nhọn, cán dao dài 14cm) cầm trên tay trái chạy đến đâm 01 cái trúng vào cánh tay phải của anh H1, anh H1 dùng hai tay nắm lấy tay trái của T đang cầm dao, làm đứt tay trái anh H1, hai bên giằng co qua lại thì anh H1 bị té ngã ngửa xuống nền xi măng. T đứng khom người tiếp tục cầm dao đâm 01 cái trúng vào bên phải bụng anh H1 thì chị B chạy đến giật lấy dao trên tay T, làm cán dao và lưỡi dao bị gãy rời ra. Sau đó, T đến Văn phòng ấp R, xã T trình báo sự việc; anh H1 được đưa đến Trung tâm y tế huyện G cấp cứu, sau đó chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố H điều trị đến ngày 01-12-2023 chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh T đến ngày 04-12-2023 xuất viện. Ngày 25-12-2023 anh H1 làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với T.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 14 ngày 24-01-2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn H1 tại thời điểm giám định là 03%; thương tích phù hợp do vật sắc gây ra.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) lưỡi dao kim loại dài 29.5cm, rộng nhất 6.5cm, dày 0.5mm, loại 01 cạnh sắt, mũi nhọn, trọng lượng 100g; 01 (một) cán dao kim loại dài 14cm, trọng lượng 500g.

Về trách nhiệm dân sự: anh Đỗ Văn H1 yêu cầu bồi thường tổn thất về sức khỏe và tinh thần là 84.600.000 đồng; bị cáo chưa bồi thường.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 44/2024/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lê Anh T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Lê Anh T bồi thường cho anh Đỗ Văn H1 số tiền 34.665.000 đồng (trong đó: tiền thuốc và tiền viện phí là 9.000.000 đồng, chi phí phát sinh chữa bệnh là 23.665.000 đồng và bồi thường tổn thất về tinh thần là 3.600.000 đồng). Đối trừ số tiền 20.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh theo biên lai thu số 0006173 ngày 02/5/2024, bị cáo còn phải bồi thường cho ông H1 số tiền 14.665.000 (mười bốn triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng

cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024 bị cáo Lê Anh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới, nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm là hợp pháp.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo T làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

[3.1] Về tội danh: căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm có căn cứ xác định; khoảng 16 giờ ngày 29-11-2023, sau khi uống rượu xong, bị cáo Lê Anh T đến nhà chị B để cho tiền cháu Lê Thị Thảo L (con chung của bị cáo và chị B). Lúc này, anh H1 (bị hại) đến nhà chị B để giao thịt bò. T hỏi “Ông là ai, sao lại ở nhà chị B” thì hai bên xảy ra cự cãi. T dùng tay trái đánh vào mặt anh H1, anh H1 đưa tay lên đỡ, đồng thời đẩy lùi xe ra, T dùng chân trái đạp làm ngã xe, rồi hai bên xô đẩy nhau; chị B ôm T lại, T vùng vẫy thoát ra rồi chạy đến quầy bán thịt lấy 01 cây dao bằng kim loại dài 43,5cm đâm 01 cái trúng vào cánh tay phải của anh H1, anh H1 nắm lấy tay đang cầm dao của T làm đứt tay trái anh H1; hai bên giằng co qua lại thì anh H1 bị té ngã; T cầm dao đâm 01 cái trúng vào bên phải bụng anh H1 thì chị B chạy đến giật lấy dao trên tay T. Hậu quả làm cho anh H1 bị tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 03%.

Như vậy, bị cáo T là người dùng dao gây thương tích cho anh H1, trong khi trước đó giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì. Hành vi nêu trên của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; nguyên nhân do bị cáo ghen

tuông dẫn đến gây thương tích cho bị hại một cách vô cớ; thực hiện hành vi phạm tội quyết liệt; gây mất trật tự tại địa phương; nên cần xử lý theo pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

[3.3] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tặng nặng.

[3.4] Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo nộp 20.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đến Văn phòng ấp trình báo; đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.5] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ nêu trên xử phạt bị cáo 06 tháng tù là mức khởi điểm của khung hình phạt, đúng pháp luật, không nặng. Bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới; cho nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp nên chấp nhận.

[4] Về án phí: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Anh T.
  3. Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 44/2024/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
  4. Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Anh T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  5. Án phí phúc thẩm: bị cáo Lê Anh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

6. Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 (TANDTC);
  • - TANDCC tại TP HCM;
  • - VKSNDCC tại TP HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - CQTHA hình sự huyện Gò Dầu;
  • - CQĐT Công an huyện Gò Dầu;
  • - TAND huyện Gò Dầu;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Dầu;
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Công an (xã, phường, thị trấn) nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án HSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

5

PHIẾU ĐỀ XUẤT TRAO ĐỔI NGHIỆP VỤ

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Phan Thanh T2

Được phân công giải quyết vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 11/2024/TLHS-PT ngày 15-01-2024 đối với bị cáo:

Lê Tấn H2, sinh năm 1980; nơi cư trú: khu phố T, thị trấn G, tỉnh Tây ninh. Tiền án: không; tiền sự: ngày 19/7/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tây Ninh ra quyết định số 117/QĐ xử phạt vi phạm hành chính 4.000.000 đồng về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, chưa nộp phạt.

I. Nội dung vụ án: khoảng 16 giờ ngày 30/7/2023, H2 tổ chức uống rượu tại nhà cùng với D, V, H3 và T3. Sau đó, V và Trương bỏ về trước. Lúc này, giữa H2 và D xảy ra cự cãi; D chửi H2 là điên, H2 đi vào nhà lấy 01 đoạn sắt hình trụ tròn (dài 67cm, đường kính 3,4cm, dày 0,1cm, 02 đầu bằng, 01 đầu có vết móp kích thước (07 x 04)cm) đánh trúng vào vùng đầu D thì được can ngăn. D đi về nhà lấy dao tự chế bằng kim loại quay lại chém H2 gây thương tích ở bàn tay, khủy tay và vùng lưng. H2 được đưa đi cấp cứu điều trị đến ngày 14/8/2023 xuất viện. Ngày 11/9/2023 D làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với H2 và không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản kết luận giám định: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của D tại thời điểm giám định là 03%.

Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã: cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Tuấn H4 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố y gây thương tích”.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

II. Quan điểm của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án:

- Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ xét thấy: tỷ lệ tổng thương cơ thể bị hại 03%; bị cáo dùng hung khí nguy hiểm; có tính chất côn đồ. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H4 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS là có căn cứ.

- Về hình phạt: mức hình phạt 06 tháng tù giam là khởi điểm của khung, không nặng; bị cáo có tiền sự chưa nộp phạt, chưa xóa; nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo.

- Đề xuất: giữ nguyên bản án sơ thẩm.

III. Ý kiến của UBTP

Thẩm phán

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 90/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Tuấn Anh kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger