|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập – Tự do – Hạnh phúc | |
| Bản án số: 90/2024/HS-ST | |
| Ngày: 26/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Vũ Hùng
Ông Lâm Văn Vô
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quyền - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/HSST ngày 03/7/2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lưu Chí H, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1977 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Thường trú: Không nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; Nơi cư trú: Không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 5/12; Dân tộc: Hoa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Hộ H1 (đã chết) và bà: Huỳnh Xứ D (đã chết); Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25 tháng 02 năm 2012 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Ngày 27/01/2013, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo đã thi hành xong nghĩa vụ án phí vào tháng 8 năm 2012; Ngày 09/9/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Ngày 20/4/2018, bị cáo chấp hành xong hình phạt; Ngày 06/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Ngày 12/11/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2023 (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1989
Địa chỉ: 4 đường L, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/11/2023, tại giao lộ H - N, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, tổ tuần tra 363 Công an Q1 phát hiện Lưu Chí H đang điều khiển xe mô tô biển số 59L1-436.42 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ bên trong túi quần trước bên trái H đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Tiếp tục kiểm tra xe mô tô của hải phát hiện ở hộc xe bên trái có 01 hộp giấy màu xanh, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, H khai là ma túy cất giữ với mục đích sử dụng nên tổ công tác đưa H cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an P, Quận E lập biên bản phạm tội quả tang sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Q1 theo thẩm quyền.
Vật chứng: 02 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu; 01 hộp giấy màu xanh; 01 điện thoại di động hiêu Itel, số IMEI: 359674101710746; 01 xe mô tô hiệu Honda, biển số 59L1-436.42, số khung: RLHJF3307CY138057, số máy: JF33E013810
Tại bản Kết luận giám định số 12976/KL-KTHS ngày 23/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
02 gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lưu Chí H và hình dấu Công an P, Quận E, bên trong có:
- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,5754g (không phẩy năm bảy năm bốn gam) loại Methamphetamine.
- Gói 02: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn có khối lượng 10,0183g (mười phẩy không một tám ba gam) loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số: 88/CT-VKS-Q5 ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lưu Chí H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Lưu Chí H đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 10,5937g (mười phẩy năm chín ba bảy gam) loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng và bị bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lưu Chí H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lưu Chí H với mức án từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; Về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lưu Chí H không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lưu Chí H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lưu Chí H đã có hành vi cất giữ trái phép tổng cộng 10,5937g (mười phẩy năm chín ba bảy gam) loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại, gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” không hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo H, hiện chưa rõ lai lịch, khi nào bắt được xử lý sau.
[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lưu Chí H là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[9] Về xử lý vật chứng:
02 gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lưu Chí H và hình dấu Công an P, Quận E, bên trong có:
- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,5754g (không phẩy năm bảy năm bốn gam) loại Methamphetamine.
- Gói 02: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn có khối lượng 10,0183g (mười phẩy không một tám ba gam) loại Methamphetamine
Sau giám định, số ma túy còn lại được gói trong các gói niêm phong số 12976(2519/23)- gói 1 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Q1 và gói niêm phong số 12976(2519/23)- gói 2 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Q1. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 hộp giấy màu xanh H dùng để cất ma túy, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động hiêu Itel, số IMEI: 359674101710746 là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
01 xe mô tô hiệu Honda, biển số 59L1-436.42, số khung: RLHJF3307CY138057, số máy: JF33E013810. Qua giám định xác nhận xe có số khung, số máy nguyên thủy. Chiếc xe trên do chị Nguyễn Thị Thanh T đứng tên chủ sở hữu nhưng qua xác minh, chị T hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ nên không ghi được lời khai. H khai mua xe trên của một thanh niên không rõ lai lịch với giá 3.000.000đ và không làm giấy tờ mua bán. Xét chiếc xe trên do chị Nguyễn Thị Thanh T đứng tên chủ sở hữu nhưng hiện không có mặt tại địa phương, không ghi nhận được ý kiến và cũng không thể xác định chị T có chuyển nhượng cho ai khác hay không và hiện nay ai là chủ thực sự của chiếc xe. Bị cáo không chứng minh được việc mua bán chuyển nhượng chiếc xe là hợp pháp. Do đó, cần giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu trong thời hạn 03 (ba) tháng. Nếu hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lưu Chí H 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2023.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 02 gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lưu Chí H và hình dấu Công an P, Quận E, bên trong có:
- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,5754g (không phẩy năm bảy năm bốn gam) loại Methamphetamine.
- Gói 02: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn có khối lượng 10,0183g (mười phẩy không một tám ba gam) loại Methamphetamine
Sau giám định, số ma túy còn lại được gói trong các gói niêm phong số 12976(2519/23)- gói 1 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Q1 và gói niêm phong số 12976(2519/23)- gói 2 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Xuân S và cán bộ đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Q1.
Tinh thể không màu trong 01 gói giấy được niêm phong, bên ngoài có chữ ký tên Lưu Chí H và hình dấu Công an P1, Quận E; Tinh thể không màu và chất bột màu trắng trong 02 gói được niêm phong, bên trong có bên ngoài có chữ ký ghi tên Lưu Chí H và hình dấu Công an P2, Quận F đưa đi giám định. Sau giám định, các tinh thể không màu và chất bột màu trắng còn lại được gói trong các gói niêm phong số 193/24-Q5 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phan Tấn Q và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T1; Gói niêm phong số 198/24-Q5 gói 01 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T1; Gói niêm phong số 198/24-Q5 gói 02 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T1.
Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu xanh;
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiêu Itel, số IMEI: 359674101710746.
Giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu: 01 xe mô tô hiệu Honda, biển số 59L1-436.42, số khung: RLHJF3307CY138057, số máy: JF33E013810 trong thời hạn 03 (ba) tháng. Nếu hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quang Dũng |
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lưu Chí Hải bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
