|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 90/2024/DS-ST Ngày: 26 - 7 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hòa
- Bà Diệp Thị Thu Nguyệt
-Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh là Thư ký tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Hôm nay 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 93/2020/TLST-DS về việc “Tranh chấp dân sự - Hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QÐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QÐST- DS ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển thành phố H (gọi tắt là H1).
Trụ sở: Số B Bis N, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T (cũ là ông Nguyễn Hữu Đ) - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Đặng Anh T1 (cũ là bà Huỳnh Nguyễn Bảo H) - Chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển thành phố H (Theo Quyết định ủy quyền số 1489/2023/QĐ-TGĐ ngày 23/5/2023).
Người được ủy quyền lại: Nguyễn Lê Bảo B - Chức vụ: Chuyên viên quan hệ khách hàng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển thành phố H - Chi nhánh C (Theo Giấy ủy quyền số 04/2024/UQ-HDBANK ngày 07/5/2024). (Có mặt)
2. Bị đơn:
- Ông Trần Ca L, sinh năm 1986. (Vắng mặt)
- Bà Phạm Thị P, sinh năm 1984. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH Một thành viên T3.
Địa chỉ: Đường P, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tạ Vĩnh P1 - Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Lý D, sinh năm 1982; địa chỉ A đường V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ, hiện nay ông D đã nghỉ việc nên ông P1 là người trực tiếp tham gia tố tụng. (Vắng mặt)
Ông Ngô Ngọc S, sinh năm 1989 (là Cán bộ tín dụng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển thành phố H - Chi nhánh C - Phòng G).
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai, cũng như tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển thành phố H trình bày:
Ngân hàng đã cho ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P vay tổng số tiền là 1.500.000.000 đồng, theo các Hợp đồng tín dụng như sau:
1/ Hợp đồng tín dụng trung – dài hạn số 0028/17/HĐTDTDH-CN/050 ngày 14/3/2017 vay 420.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ 0028/17/HĐTDTDH-CN/050/ÐNGN-KUNN.01; ngày nhận nợ 15/3/2017; ngày đến hạn 15/3/2020; thời hạn vay 36 tháng; lãi suất 14,5%/năm; mục đích vay: mua máy gặt đập liên hợp.
2/ Hợp đồng tín dụng số 0031/17/HĐTDTDH-CN/050 ngày 28/3/2017 vay 420.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ 0031/17/HĐTDTDH-CN/050/ÐNGN-KUNN/CN/01; ngày nhận nợ 30/3/2017; ngày đến hạn 29/3/2020; thời hạn vay 36 tháng; lãi suất 14,5%/năm; mục đích vay: mua máy gặt đập liên hợp.
3/ Hợp đồng tín dụng số 15461/17MN/HĐTD ngày 17/10/2017 vay 240.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ 15461/17MN/HĐTD/ÐNGN-KUNN/CN/01; ngày nhận nợ 19/10/2017; ngày đến hạn 18/10/2020; thời hạn vay 36 tháng; lãi suất 13,5%/năm; mục đích vay: mua máy gặt đập liên hợp.
4/ Hợp đồng tín dụng số 01107/18MN/HĐTD ngày 19/01/2018 vay 540.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ 01107/18MN/HĐTD/ÐNGN-KUNN/CN/01; ngày nhận nợ 08/02/2018; ngày đến hạn 07/02/2021; thời hạn vay 36 tháng; lãi suất 13,5%/năm; mục đích vay: mua máy gặt đập liên hợp.
Lãi suất cho vay được cố định trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày nhận tiền vay. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức sau: Lãi suất vay = Lãi suất LS13+ 6,7%/năm.
Tài sản đảm bảo cho các khoản vay ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P đã thế chấp các máy móc, thiết bị/phương tiện vận tải sau: 01 máy gặt đập liên hợp Yanmar AW82V: số khung C88-200121; số máy 05096A; 01 máy gặt đập liên hợp Yanmar AW82V: số khung C88-270392; số máy 10318A; 01 máy kéo Yanmar EF514T: số khung 514-201947; số máy 09703A; 01 máy gặt đập liên hợp Yanmar YH850: số khung C9D-200100; số máy 03474A.Theo các Hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị/phương tiện vận tải số: 0026/17/HĐBĐ-050 ngày 14/3/2017, số 0029/17/HĐBĐ-050 ngày 28/3/2017, 13347/17/MN/HĐBĐ ngày 17/10/2017 và số 00850/18/HĐBĐ ngày 19/01/2018. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 14/3/2017, 28/3/2017, 17/10/2017, 19/01/2018 tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty TNHH Một thành viên T3 cam kết phối hợp với Ngân hàng thu hồi tài sản thế chấp khi bên vay ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P phát sinh nợ quá hạn tại Ngân hàng và cũng cam kết trả nợ thay cho ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P khi không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ tại các Thỏa thuận ba bên số 0028/17/HĐTT-BB/050 ngày 14/3/2017; 0031/17/HĐTT-BB/050 ngày 28/3/2017; số 812/17/TTBB ngày 17/10/2017 và số 037/18/TTBB ngày 19/01/2018 và các cam kết đồng trả nợ đã ký cùng ngày.
Do ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi tính đến ngày 25/7/2024 còn nợ gốc là 808375797 đồng và nợ lãi tạm tính đến 25/7/2024 là 897.869.684đồng, tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 1.706.245.481đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P phải liên đới trả cho Ngân hàng tiền vốn và lãi tính đến ngày 25/7/2024 gốc là 808.375.797 đồng và nợ lãi là 897.869.684đồng, tổng cộng 1.706.245.481đồng. Tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc 808.375.797₫.
Trường hợp ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị giao tài sản cho ngân hàng để xử lý theo thỏa thuận tại các Hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị/phương tiện vận tải số 0026/17/HĐBĐ-050 ngày 14/3/2017; số 0029/17/HĐBD-050 ngày 28/3/2017; số 13347/17/MN/HĐBĐ ngày 17/10/2017 và số 00850/18/HĐBĐ ngày 19/01/2018 hoặc phát mãi tài sản theo quy định phát luật. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P đối với ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ, ông Trần Ca L, bà Phạm Thị P và Công ty TNHH MTV T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
Theo biên bản lấy lời khai bị đơn ông Trần Ca L có lời khai trình bày: Ông và vợ bà Phạm Thị P có ký 04 hợp đồng tín dụng vay tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố H – Chi Nhánh C - Phòng G, cụ thể ngày 14/3/2017 vay 420.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng trung - dài hạn 0028/17/HĐTDTDH-CN/050, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất vay 14,5%, mục đích vay mua máy gặt đập liên hợp. Ngày 28/3/2017 vay 420.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng 0031/17/HĐTDTDH-CN/050, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất vay 14,5%, mục đích vay mua máy gặt đập liên hợp. Ngày 17/10/2017 vay 240.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng 15461/17MN/HĐTD, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất vay 13,5%, mục đích vay mua máy gặt đập liên hợp. Ngày 19/01/2018 vay 540.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng 01107/18MN/HĐTD, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất vay 13,5%, mục đích vay mua máy gặt đập liên hợp. Lãi suất cho vay được cố định trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày nhận tiền vay. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần. Khi vay ông L, bà P có thế chấp các tài sản gồm 01 máy gắt đập liên hợp Yanmar AW82V số khung C88-200212, số máy 05096A, 01 máy gắt đập liên hợp Yanmar AW82V số khung C88-270392, số máy 10318A, 01 máy kéo Yanmar EF514T số khung 514-201947, số máy 09703A, 1 máy gặt đập liên hợp Yanmar YH850 số khung C9D-200100, số máy 03474A.
Ngoài ra thì Công ty TNHH T3 cam kết phối hợp với Ngân hàng H1 thu hồi tài sản thế chấp khi ông L, bà P phát sinh nợ quá hạn tại H1 và cũng cam kết trả nợ thay cho ông, bà khi không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ tại các thỏa thuận ba bên và các cam kết đồng trả nợ. Do không hiểu biết ông, bà trả đã không trả trực tiếp cho Ngân hàng mà gửi cho ông Ngô Ngọc S (là cán bộ tín dụng Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố H - Chi Nhánh C - Phòng G) trực tiếp thu tiền của ông, bà và chuyển tiền vào tài khoản của ông S khoảng 133.000.000 đồng, tài khoản người thân của ông S (do ông S kêu chuyển) khoảng 61.000.000 đồng và ông S nhận trực tiếp khoảng 20.000.000 đồng. Do ông S cho rằng tài khoản trả tiền theo Hợp đồng đã bị đổi nên ông S kêu ông đưa trực tiếp cho ông S và chuyển vào tài khoản mà ông S cung cấp cho ông chuyển vào. Đối với số tiền ông đã đưa cho ông S thì không yêu cầu trong vụ án này, ông sẽ yêu cầu ông S trả sau. Nay đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì ông đồng ý trả cho Ngân hàng số nợ gốc nhưng xin được trả dần trong thời hạn 03 năm, còn đối với số tiền lãi thì xin Ngân hàng không tính lãi.
Theo bản tự khai Công ty TNHH T3 có lời khai trình bày: Ngày 14/3/2017 Công ty có ký cam kết thỏa thuận đồng trả nợ số 0026/17/HĐBĐ-050 ngày 14/3/2017; số 0029/17/HĐBD-050 ngày 28/3/2017; số 13347/17/MN/HĐBĐ ngày 17/10/2017 và số 00850/18/HĐBĐ ngày 19/01/2018. Ngân hàng Thương mại Cổ phần phát triển Thành phố H đã cho ông L, bà P vay tiền và có thế chấp tài sản là máy mà Công ty bán cho ông Ca L, bà P do đó đề nghị phát mãi tài sản để Ngân hàng thu hồi nợ, đồng ý trả nợ thay cho ông L, bà P khi không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ tại các thỏa thuận ba bên và các cam kết đồng trả nợ.
Trong quá trình giải quyết, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ đương sự bà P, ông S theo quy định pháp luật nhưng bà P, ông S không đến tham gia phiên hòa giải, cũng không gửi văn bản ghi ý kiến mà không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của bà P, ông S được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, các bên thống nhất được số tiền còn thiếu, căn cứ vào hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Trần Ca L, bà Phạm Thị P là bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ngô Ngọc S, Công ty TNHH MTV T3 (Người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Lý D, sinh năm 1982; địa chỉ A đường V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ, hiện nay ông D đã nghỉ việc nên ông P1 là người trực tiếp tham gia tố tụng) đã được Tòa án tống đạt Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ theo quy định pháp luật, nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ vào điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về nội dung: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển thành phố H khởi kiện yêu cầu bà Ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P phải có trách nhiệm trả số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 25/7/2024 còn nợ gốc là 808.375.797 đồng và nợ lãi tạm tính đến 25/7/2024 là 897.869.684đồng, tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 1.706.245.481đồng và tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Xét Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển thành phố H với ông L, bà P có giao kết hợp đồng vay vốn. Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng S1 yêu cầu bà ông L, bà P phải trả số tiền còn thiếu là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển thành phố H buộc ông L, bà P có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển thành phố H số tiền đến ngày 25/7/2024 còn nợ gốc là 808.375.797 đồng và nợ lãi là 897.869.684đồng, tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 1.706.245.481đồng. Phải chịu tiền lãi phát sinh tiếp tục cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Khi vay có thế chấp tài sản là 04 máy gặt đập liên hợp đây là tài sản ưu tiên để thu hồi nợ cho Ngân hàng
Công ty TNHH MTV TMDV Đại Phước Vinh có ký cam kết sẽ cùng trả nợ cho Ngân hàng trong trường hợp ông L, bà P không trả được nợ, do đó trường hợp ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty TNHH MTV T3 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng.
Ông Ca L có trình bày có gửi tiển trả cho ông S nhưng ông S không nộp lại cho Ngân hàng, tuy nhiên ông không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do bị buộc trả nợ nên ông L, bà P phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điều 463, Điều 466, và Điều 468 của BLDS 2015, Điều 35, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 2 điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển thành phố H (H1)
Buộc ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển thành phố H số tiền vốn 808.375.797 đồng, lãi 897.869.684 đồng, tổng cộng 1.706.245.481 đồng (Một tỷ bảy trăm lẻ sáu triệu bốn trăm tám mươi mốt ngàn đồng). Kể từ ngày 26/7/2024 ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh với mức lãi suất nợ quá hạn trên số vốn gốc 808.375.797 đồng (T2 trăm lẻ tám triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn bảy trăm chín mươi bảy đồng) cho đến khi thi hành án xong.
Trường hợp ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P không thực hiện trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp máy móc, thiết bị/phương tiện vận tải số: 0026/17/HĐBĐ-050 ngày 14/3/2017, số 0029/17/HĐBĐ-050 ngày 28/3/2017, 13347/17/MN/HĐBĐ ngày 17/10/2017 và số 00850/18/HĐBĐ ngày 19/01/2018.
Trường hợp ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty TNHH MTV T3 phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ 1.706.245.481 đồng cho H1 theo thỏa thuận ba bên số 0028/17/HĐTT-BB/050 ngày 14/3/2017; 0031/17/HĐTT-BB/050 ngày 28/3/2017; số 812/17/TTBB ngày 17/10/2017 và số 037/18/TTBB ngày 19/01/2018 và các cam kết đồng trả nợ đã ký cùng ngày.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Ca L và bà Phạm Thị P phải chịu 63.187.364 đồng (Sáu mươi ba triệu một trăm tám mươi bảy ngàn ba trăm sáu mươi tư đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Phát triển thành phố H được nhận lại 19.544.613 đồng (Mười chín triệu năm trăm bốn mươi bốn ngàn sáu trăm mười ba đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001026 ngày 29/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, phường (thị trấn) nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thu Hằng |
Bản án số 90/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 90/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
