Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày 25-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn và ông Nguyễn Trường Ca.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phú - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức- Kiểm sát viên trung cấp và ông Nguyễn Anh Đ- Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phù Văn M

    - sinh năm 1999 tại C, Hải Dương.
  2. Nơi cư trú: Thôn L, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hiện ở: Khu dân cư T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa:7/12. Dân tộc: H; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phù Văn N và bà Hoàng Thị A. Có vợ Vũ Minh P, có 01 con sinh năm 2019.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024, đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay.

  3. Hoàng Văn B

    - sinh năm 2004 tại C, Hải Dương.
  4. Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa:6/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hoàng Văn S và bà Nguyễn Thị N1.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ-XPHC ngày 27/4/2024 của Công an huyện G về hành vi: Tàng trữ, cất giấu vũ khí thô sơ nhằm mục đích cố ý gây thương tích. Ngày 16/5/2023 B thi hành xong.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024, đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay.

  5. Nguyễn Văn T

    - sinh năm 2005 tại C, Hải Dương.
  6. Nơi cư trú: khu dân cư T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa:8/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị Út .

    Tiền án, Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024, đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay.

  7. Hoàng Văn N2

    - sinh năm 2004 tại C, Hải Dương.
  8. Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa:6/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hoàng Văn S và bà Nguyễn Thị N1.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ-XPHC ngày 27/4/2024 của Công an huyện G về hành vi: Tàng trữ, cất giấu vũ khí thô sơ nhằm mục đích cố ý gây thương tích. N2 chưa thi hành khoản tiền phạt.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024, đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay.

  9. Phù Văn H1

    - sinh năm 1998 tại C, Hải Dương.
  10. Nơi cư trú: Thôn L, xã B, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa:7/12. Dân tộc: H; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phù Văn N và bà Hoàng Thị A.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024, đến ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay.

( Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)

Người làm chứng: Chị Ngô Thị Y, sinh năm 1987 và chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1970. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 01/06/2024, Phù Văn M, Hoàng Văn B, Hoàng Văn N2 và Nguyễn Văn T ngồi chơi tại nhà trọ của Phù Văn M ở khu dân cư T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương ( Mạnh thuê của ông Phù Văn S1, sinh năm 1972 và vợ là bà Vũ Thị T1, sinh năm 1976 cùng trú tại Khu dân cư C, phường B, T, tỉnh Hải Dương) M nói với mọi người "Làm tí đồ về nhỉ” (ý M rủ mọi người cùng mua ma túy về sử dụng), mọi người đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi M và B ngồi nói chuyện tại đường tầu đối diện cửa nhà trọ, thì M nói với B "có làm tí không ?” (ý M muốn hỏi B có sử dụng ma túy không), B trả lời "có", M nói "có thì đưa tiền đây" nên B đưa cho M số tiền 700.000 đồng và bảo "anh cầm đi lấy đồ ”. M cầm tiền và bảo B "đi Bắc Ninh đón anh H1” (H1 là anh trai ruột của M). Khi thấy Trần Nam C, sinh năm 1995, trú tại: Khu dân cư C, phường B, thành phố C điều khiển xe mô tô biển số: 34C1-488.50 đi qua, dừng lại nói chuyện với M nên sau đó M hỏi mượn xe mô tô của anh C để đi đón H1 thì được anh C đồng ý. Khi mượn được xe, M đưa xe cho B để đi đón H1. Khoảng 21 giờ, M bảo T "dậy, đi lấy đồ với tao” (ý M bảo T đi mua ma túy cùng), T đồng ý sau đó M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34C1-418.45 (xe của chị Trần Thị Bích N3, sinh năm 1981, trú tại: Khu dân cư N, phường S, thành phố C) chở T đi mua ma túy. Khi ra đến cửa nhà thì gặp Trần Kế C1, sinh năm 2000, trú tại: khu dân cư Đ, phường H, thành phố C đến chơi, M nói với C1 "đợi tí, tao đi có việc". Sau đó M và T đi đến khu vực Tượng đài thuộc thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Tại đây, M gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lý lịch hỏi " có ma túy không anh, để cho em 700.000 đồng", người thanh niên nói "có". Sau đó M lấy 700.000 đồng đưa cho người này, người này cầm tiền đưa lại cho M 01 túi nilon ma túy. Sau đó M cầm túi ma túy mua được chở T về chỗ trọ. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến nhà trọ M chia số ma túy vừa mua được sang một túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh rồi để trong hộp giấy màu đen, bên ngoài có chữa “BINBOND” và cất giấu tại tủ cạnh giường ngủ của vợ chồng M với mục đích để bản thân sử dụng sau. Số ma túy còn lại, M đi xuống gian bếp lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý của M để đổ ma túy vào coóng thủy tinh để M, N2 và C1 cùng nhau sử dụng, sau đó M để bộ sử dụng ma tuý bên trong vẫn còn ma tuý ở gầm chạn bếp, M lên giường nằm, N2 đi chơi còn C1 đi về. Đến khoảng 23 giờ, Phù Văn H1 và B về thì cả hai đi xuống gian bếp rửa mặt, M đi theo sau. Rửa mặt xong, H1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy từ

gầm chạn ra, thấy trong bầu coóng thủy tinh có sẵn ma túy nên H1 dùng bật lửa đốt nóng ma túy châm cho M, B và bản thân sử dụng, khoảng 10 phút thì T đi xuống tự châm để sử dụng ma túy. Khi sử dụng ma túy xong các đối tượng lại cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy dưới gầm chạn rồi M lên giường nằm ngủ còn H1, B và T nằm tại gian bếp xem điện thoại. Đến khoảng gần 1 giờ ngày 02/6/2024 khi N2 đi chơi về, xuống gian bếp thì thấy có bộ đồ sử dụng ma túy bên trong vẫn còn ma tuý để ở gầm chạn nên đã lấy ra, thấy M đi xuống, N2 đưa bộ đồ sử dụng ma túy cho M rồi M cầm bật lửa châm đốt nóng ma túy trong coóng cho N2 sử dụng. Thấy B đi vào N2 hỏi “có hút không?”, B bảo “có” nên N2 lấy bộ đồ châm cho B hút. Khi sử dụng xong M lên giường nằm còn H1, B, T và N2 nằm ngủ tại gian bếp, bộ sử dụng ma tuý để ở gầm chạn bếp. Đến khoảng 10 giờ ngày 2/6/2024 M cùng H1 và B đi xuống gian bếp lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy từ gầm chạn ra, trong bầu coóng thủy tinh vẫn còn ma tuý M, H1, B lại tiếp tục sử dụng ma túy. Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 02/6/2024 thì lực lượng Công an thành phố C vào kiểm tra phát hiện, lập biên bản thu giữ dưới gầm tủ chạn bếp: 01 bật lửa gas, màu đỏ, nhãn hiệu “Hoa Việt”; 01 chai nhựa màu trắng, nhãn mác có chữ “sting”, chiều cao 20 cm, đường kính mặt đáy 5 cm, phần nắp được đục hai lỗ, một lỗ được cắm ống hút nhựa màu cam dài 10 cm, một đầu ống hút được nối với ống hút nhựa màu vàng dài 16 cm; một lỗ được cắm coóng thủy tinh, chiều dài 10 cm, phần bầu coóng bám dính chất tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì); thu giữ trong tủ để đồ đặt cạnh giường ngủ: 01 hộp giấy màu đen, bên ngoài có chữ “BINBOND”, kích thước (3x7x15)cm, bên trong chứa 01 túi ni lông màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thước (2x2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì), M khai là ma tuý, M cất đi để sử dụng cá nhân. Ngoài ra còn thu giữ: 01 xe mô tô, biển kiểm soát 34C1-418.45; 01 xe mô tô, biển kiểm soát 34C1-488.50.

- Tại Bản kết luận giám định số: 282/KL - KTHS ngày 04/06/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận:

+ Chất tinh thể màu trắng, bám dính bên trong bầu coóng thủy tinh, được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định, là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

+ Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định khối lượng là: 0,165g là ma túy, loại Methamphetamine.

Các bị can Phù Văn M, Phù Văn H1, Hoàng Văn B, Hoàng Văn N2 và Nguyễn Văn T nhận thức và biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là

vi phạm pháp luật nhưng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân cùng đồng phạm nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

Trong quá trình điều tra, các bị can Phù Văn M, Phù Văn H1, Hoàng Văn B, Hoàng Văn N2 và Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can quy định tại Bộ luật hình sự.

Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C đã nhập kho vật chứng: 01 coóng thủy tinh màu trắng, dài 10,5cm, phần bầu coóng có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine; 01 túi nilon màu trắng, viền khóa màu xanh, kích thước (2x2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,165g. Sau khi giám định được hoàn lại trong 01 phong bì niêm phong số: 282/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh H; 01 chai nước màu trắng, nhãn mác có chữ “Sting”, chiều cao 20cm, đường kính mặt đáy 05cm, phần nắp chai màu đỏ được đục 02 lỗ, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa, màu vàng, chiều dài 16cm, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa, màu cam, chiều dài 10cm, đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga, màu đỏ, nhãn hiệu “Hoa việt”, đã qua sử dụng; 01hộp giấy, màu đen, bên ngoài có chữ “BINBOND”, kích thước (3x7x15)cm, đã qua sử dụng.

Đối với: chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 34C1-418.45 và chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 34C1-488.50, là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Bích N3 và anh Trần Nam C. Chị N3 và anh C không biết việc Phù Văn M mượn xe để làm phương tiện đi mua ma túy. Vì vậy, Công an thành phố C đã trả lại xe máy cho chủ sở hữu hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật;

Quá trình điều tra, các bị can Phù Văn M, Phù Văn H1, Hoàng Văn B, Hoàng Văn N2 và Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai nhận tội của bị can phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản vụ việc, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 94/CT-VKS-CL ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố Phù Văn M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố Hoàng Văn B, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn N2, Phù Văn H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không thắc mắc gì về nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phù Văn M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn N2, Phù Văn H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự;

+ Về điều luật và hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phù Văn M.

Xử phạt bị cáo Phù Văn M từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo M phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, khoản 1 Điều 38; điều 17, điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn N2, Phù Văn H1.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn T từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N2, Phù Văn H1 từ 07 năm 02 tháng tù đến 07 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp, thu nhập, không có khả năng thi hành án nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi Công an tỉnh H, số 282/KL-KTHS, cơ quan C2, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 566 ngày 02/6/2024, mặt sau có ba dấu đỏ giáp lai của phòng K Công an tỉnh H và ba chữ ký niêm phong mẫu, bên trong phong bì chứa: 01 cóong thủy tinh màu trắng, 0,101 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

01 chai nhựa màu trắng, nhãn mác có chữ Sting, chiều cao 20cm, đường kính mặt đáy 5cm, phần nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ, đã qua sử dụng.

01 ống hút nhựa màu cam, dài 10cm, đã qua sử dụng.

01 ống hút nhựa màu vàng, dài 16cm, đã qua sử dụng.

01 bật lửa ga, màu đỏ nhãn hiệu Hoa Việt đã qua sử dụng.

01 hộp giấy màu đen, bên ngoài có chữ BINBOND kích thước (3x7x15)cm đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016, buộc các bị cáo M, B, T, N2, H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2] Về những chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như: Lời khai nhận tội của các bị cáo, biên bản vụ việc, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ 30 phút ngày 01/6/2024 đến 10 giờ ngày 02/6/2024 tại nhà trọ của Phù Văn M thuộc khu dân cư T, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Mạnh khởi xướng, chuẩn bị địa điểm, công cụ và cùng Nguyễn Văn T đi mua ma túy loại Methamphetamine do Hoàng Văn B góp 700.000 đồng; Hoàng Văn N2 và Phù Văn H1 lấy bộ đồ sử dụng ma túy và thực hiện hành vi châm cho B, M để: M, T, B, H1, N2 và Trần Kế C1 cùng nhau sử dụng trái phép ma túy. Đến khoảng 11 giờ 40 phút ngày 02/6/2024 thì lực lượng Công an thành phố C vào kiểm tra phát hiện, thu giữ tang vật. Ngoài ra, Phù Văn M còn có hành vi cất giấu trái phép tại tủ đồ cạnh giường ngủ 0,165g ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để M sử dụng.

Hành vi của bị cáo Phù Văn M đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Hành vi của Hoàng Văn B, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn N2, Phù Văn H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật theo cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần áp dụng một hình phạt nghiêm cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[4] Khi áp dụng hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét tới vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Về nhân thân: Các bị cáo chưa bị kết án, bị cáo B, N2 đã từng bị xử lý hành chính.

Về vai trò: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn đối với tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", Phù Văn M giữ vai trò chính là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng ma túy nên giữ vai trò chính đứng đầu vụ án; Bị cáo Hoàng Văn B góp tiền, bị cáo Nguyễn Văn T đi mua ma túy về sử dụng nên giữ vai trò tích cực ngang nhau; bị cáo Hoàng Văn N2 và Phù Văn H1 giữ vai trò đồng phạm giúp sức nên đứng cuối cùng ngang nhau thấp hơn các bị cáo khác. Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Phù Văn M thực hiện với vai trò độc lập một mình.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vị trí vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù giam cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian có như vậy mới giúp các bị cáo tâm đắc sửa đổi bản thân, biết sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Mức án mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp, được chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, không có khả năng thi hành án nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi Công an tỉnh H, số 282/KL-KTHS, cơ quan C2, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 566 ngày 02/6/2024, mặt sau có ba dấu đỏ giáp lai của phòng K Công an tỉnh H và ba chữ ký niêm phong mẫu, bên trong phong bì chứa: 01 cóong thủy tinh màu trắng, 0,101 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 chai nhựa màu trắng, nhãn mác có chữ Sting, chiều cao 20cm, đường kính mặt đáy 5cm, phần nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu cam, dài 10cm, đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu vàng, dài 16cm, đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga, màu đỏ nhãn hiệu Hoa Việt đã qua sử dụng; 01 hộp giấy màu đen, bên ngoài có chữ BINBOND kích thước (3x7x15)cm đã qua sử dụng.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phù Văn M không xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có căn cứ xử lý.

Đối với ông Phù Văn S1 và bà Vũ Thị T1 cho Phù Văn M thuê trọ nhưng không biết M dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đặt ra việc xử lý.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phù Văn M, Hoàng Văn B, Hoàng Văn N2, Nguyễn Văn T, Trần Kế C1 và Phù Văn H1, Công an Thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

+ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phù Văn M.

+ Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn N2, Phù Văn H1.

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Phù Văn M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
  2. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn N2, Phù Văn H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  3. Về hình phạt chính:

    • - Xử phạt bị cáo Phù Văn M 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phù Văn M phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024.

    • - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024.

    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024.

    • - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N2 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024.

    • - Xử phạt bị cáo Phù Văn H1 07 (bảy) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024.

  4. Về hình phạt bổ sung:

    Không áp dụng đối với các bị cáo.
  5. Về vật chứng:

    Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi Công an tỉnh H, số 282/KL-KTHS, cơ quan C2, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 566 ngày 02/6/2024, mặt sau có ba dấu đỏ giáp lai của phòng K Công an tỉnh H và ba chữ ký niêm phong mẫu, bên trong phong bì chứa: 01 cóong thủy tinh màu trắng, 0,101 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.
  6. 01 chai nhựa màu trắng, nhãn mác có chữ Sting, chiều cao 20cm, đường kính mặt đáy 5cm, phần nắp chai màu đỏ được đục hai lỗ, đã qua sử dụng.

    01 ống hút nhựa màu cam, dài 10cm, đã qua sử dụng.

    01 ống hút nhựa màu vàng, dài 16cm, đã qua sử dụng.

    01 bật lửa ga, màu đỏ nhãn hiệu Hoa Việt đã qua sử dụng.

    01 hộp giấy màu đen, bên ngoài có chữ BINBOND kích thước (3x7x15)cm đã qua sử dụng.

    (Tình trạng, đặc điểm, chủng loại, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05-9-2024 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố C và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).

  7. Về án phí hình sự sơ thẩm:

    Buộc các bị cáo Phù Văn M, Hoàng Văn B, Nguyễn Văn T, Hoàng Văn N2, Phù Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND thành phố Chí Linh;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ
  • tư pháp công an tỉnh Hải Dương.
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Chí Linh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Chí Linh;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự- Công an thành
  • phố Chí Linh;
  • - Công an TP. Chí Linh (hồ sơ nghiệp vụ).
  • Lưu: hồ sơ, Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH - TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH - TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger