Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ

TP. ĐÀ NẴNG

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————

Bản án số: 90 /2024/DS-ST

Ngày: 25/9/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và đòi tiền”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ-TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình

Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 100/2024/DSST ngày 08 tháng 05 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và đòi tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 169/2024/QĐ-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S Có Ngay

Địa chỉ: A N, Phường B, thành phố V, Tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT, chức danh: Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Võ Hoài V, sinh năm 1991; Địa chỉ liên hệ: Số E đường L, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Theo Giấy ủy quyền số 441/2024/UQ-SVN ngày 01/01/2024) (Có mặt tại phiên tòa)

- Bị đơn: Ông Văn Tiến Q, sinh năm 1990

Địa chỉ: P, Khu C, tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện; các bản tự khai; Các biên bản hòa giải và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay ông Võ Hoài V trình bày:

Vào ngày 25 tháng 11 năm 2022, ông Văn Tiến Q có đến chi nhánh Đ1 01 của Công ty TNHH S1 ( Nay là Công ty cổ phần S Có Ngay ) tại địa chỉ: Số E L, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng, để ký hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo hợp đồng cầm cố số: D2TT221101020NA07X được ký giữa các bên ngày 25 tháng 11 năm 2022 số đăng ký giao dịch đảm bảo trên hệ thống đăng ký trực tuyến của cục Đ2:giaodichdambao/botuphap: 1481035287 theo: https://dktructuyen.moj.gov.vn/thì ông Văn Tiến Q có ký hợp đồng cầm cố tài sản là:

  • + 01 xe ô tô tải biển kiểm soát: 43C-269.57
  • + Loại xe: CMC VARICA; màu: White
  • + Số khung: 60F8085 - Số ô tô tải: C12SC074098
  • + Số giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029639 do công an thành phố Đ, phòng cảnh sát giao thông cấp ngày 19/10/2022. Để nhận số tiền là 38.500.000 đồng (Ba mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng y); thời hạn cầm cố là 24 tháng (từ 25/11/2022 - 25/11/2024) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng. Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho ông Văn Tiến Q.

Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên công ty có ký giấy cho ông Văn T Q mượn lại xe để sử dụng. Trong giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ 25/11/2022 đến 25/12/2022, địa điểm trả xe là tại Chi Nhánh Đ1 01. Ông Văn Tiến Q có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe với nội dung: “hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”.

Quá trình trả nợ, ông Văn Tiến Q chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho công ty, đến nay đã quá hạn hợp đồng hiện tại trễ 404 ngày, ông Văn Tiến Q không trả nợ cho công ty và cũng không trả lại xe ô tô tải cho công ty.

Quá trình thu hồi tiền, nhân viên của công ty đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và đến nhà ông Văn Tiến Q tại địa chỉ P.KCC1Dd, Tổ 14, Hòa Thọ Đ, C, Đà Nẵng nhưng đều không gặp. Công ty đã tạo rất nhiều điều kiện về thời gian để ông Văn T Quỳnh trả lại tiền hoặc tài sản là xe ô tô tải đã cầm cố cho công ty C, nhưng ông Văn Tiến Q không thực hiện và có biểu hiện trốn tránh, chiếm đoạt tài sản của công ty chúng tôi.

Từ nội dung sự việc trên, có thể khẳng định ông Văn Tiến Q đã có hành vi cầm cố tài sản cho Công ty chúng tôi, nhận được tiền thông qua hợp đồng cầm cố, chúng tôi tạo điều kiện cho mượn lại xe để sử dụng sau đó khi đến hạn, ông Văn Tiến Q không thanh toán theo hợp đồng hoặc trả lại xe cho công ty mà chiếm đoạt tài sản công ty, công ty cổ phần S tiền có ngay quyết định khởi kiện ông Văn T Quỳnh ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết theo quy định pháp luật.

Theo nội dung đơn khởi kiện, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Văn Tiến Q phải trả chiếc ô tô tải biển số 43C-269.57; loại xe CMC; Số khung: 60F8085, số ô tô tải: C12SC074098 theo Hợp đồng cầm cố đã ký kết ngày 25/11/2022.

Trường hợp ông Văn Tiến Q không trả lại xe cầm cố nêu trên thì Công ty Cổ phần S Có Ngay buộc ông Văn Tiến Q phải thanh toán số tiền tính đến ngày 04/4/2024 là 67.315.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng) trong đó, tiền gốc là 41.946.470 đồng, tiền lãi 4.211.436 đồng, phí quản lý hồ sơ là 1.914.289 đồng; phí mượn xe 16.940.000 đồng; phí tất toán trước hạn là 894.627 đồng, phí trễ hạn 7.533.627 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phí quản lý hồ sơ như sau: Công ty Cổ phần S có Ngay yêu cầu ông Văn Tiến Q phải trả cho Công ty số tiền còn nợ theo hợp đồng cầm cố tính đến ngày xét xử ngày 25/9/2024 là 78.045.546 đồng, trong đó: Nợ Gốc: 35.821.794 đồng; Lãi trong hạn: 4.719.873 đồng (Tính từ 25/2/2023 đến 25/09/2024); Lãi quá hạn : 14.403.878,73đ (Tính từ 25/2/2023 đến 25/09/2024); P mượn xe:23.100.000 đồng (Tính từ 25/2/2023 đến 25/09/2024). Buộc ông Văn Tiến Q phải chịu lãi phí phát sinh kể từ ngày 26/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho công ty P1 với quy định của pháp luật.

Trong trường hợp ông Văn Tiến Q không thanh toán số tiền đang nợ cho Công ty thì công ty có quyền yêu cầu xử lý tài sản cầm cố là chiếc xe ô tô tải CMC VARICA màu trắng, mang BKS: 43C-269.57. số khung : 60F8085 - số ô tô tải: C12SC074098.

*Đối với bị đơn ông Văn Tiến Q:

Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa để ông Văn Tiến Q trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và tham gia tố tụng tại tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhưng cho đến ngày mở phiên tòa hôm nay ông Văn Tiến Q vẫn vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.

* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo, riêng bị đơn ông Văn Tiến Q chưa thực hiện đúng theo quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Văn Tiến Q đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt ông Văn Tiến Q.

Về nội dung: Căn cứ quy định tại Điều 309, 310, 311, 312, 313, 314, 315, 316, 307, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S Có Ngay đối với ông Văn Tiến Q. Buộc ông Văn Tiến Q phải trả cho Công ty cổ phần S Có Ngay số tiền nợ gốc đã nhận cầm cố, nợ lãi và phí được điều chỉnh tính đến ngày xét xử (25/9/2024) tổng cộng là 78.045.546 đồng, trong đó: Nợ Gốc: 35.821.794 đồng; Lãi trong hạn: 4.719.873 đồng (Tính từ 25/2/2023 đến 25/09/2024); Lãi quá hạn : 14.403.878,73đ (Tính từ 25/2/2023 đến 25/09/2024); P mượn xe:23.100.000 đồng (Tính từ 25/2/2023 đến 25/09/2024).

Kể từ ngày 26/9/2024, ông Văn Tiến Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc cầm cố chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố tài sản số: D2TT221101020NA07X ngày 25/11/2022 được ký kết giữa ông Văn Tiến Q với Công ty cổ phần S Có Ngay (trước đây là Công ty TNHH S1) cho đến khi ông Văn T Quỳnh thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp ông Văn Tiến Q không thực hiện việc trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì đề nghị xử lý tài sản cầm cố là xe ô tô xe ô tô tải CMC VARICA màu trắng, mang BKS: 43C-269.57, số khung : 60F8085 - số ô tô tải: C12SC074098 Theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029639 do công an thành phố Đ, phòng C1 cấp ngày 19/10/2022 cho ông Văn Tiến Q để thu hồi nợ cho Công ty.

Về án phí dân sự sơ thẩm ông Văn Tiến Q phải chịu theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Công ty cổ phần S Có Ngay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các đương sự trình bày ý kiến; Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát; sau khi thảo luận và nghị án, HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Công ty cổ phần S Có Ngay khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và đòi tiền đối với ông Văn Tiến Q và Tòa án đã thụ lý giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Văn Tiến Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình Tòa án tiến hành giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Vì vậy căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn ông Văn Tiến Q.

[3] Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị buộc ông Văn Tiến Q phải trả tiền, trong trường hợp không trả tiền thì phát mãi tài sản cầm cố để thu hồi nợ. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không vượt quá nội dung yêu cầu khởi kiện nên HĐXX chấp nhận. Đối với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phí quản lý hồ sơ là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phí quản lý hồ sơ 1.914.289 đồng.

Về nội dung:

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S có Ngay về việc yêu cầu ông Văn Tiến Q phải trả cho Công ty số tiền tính đến ngày 25/9/2024 tổng cộng là 78.045.546 đồng, trong đó: Nợ gốc: 35.821.794 đồng; Lãi trong hạn: 4.719.873 đồng; Lãi quá hạn: 14.403.878,73đ; P mượn xe: 23.100.000 đồng và phải tiếp tục thanh toán khoản lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kết kể từ ngày 26/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ, HĐXX xét thấy:

[5] Căn cứ Hợp đồng cầm cố số D2T221101020NA07X ngày 25/11/2022 được ông Văn Tiến Q ký kết với Công ty TNHH S1 (Nay là Công ty Cổ phần S có Ngay) kèm phụ lục hợp đồng cầm cố số D2T221101020NA07X ngày 25/11/2022; Phiếu đăng ký cầm cố xe ngày 25/11/2022 giữa ông Văn Tiến Q và Công ty TNHH S1, HĐXX có cơ sở để xác định: Ngày 25/11/2022, giữa Công ty TNHH S1 (Nay là Công ty Cổ phần S có Ngay) và ông Văn Tiến Q có ký kết Hợp đồng cầm cố số D2T221101020NA07X ngày 25/11/2022, theo đó: Ông Văn Tiến Q cầm cố tài sản là xe ô tô tải CMC VARICA màu trắng, mang BKS: 43C-269.57, số khung : 60F8085 - số ô tô tải: C12SC074098 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029639 do công an thành phố Đ, phòng C1 cấp ngày 19/10/2022 cho ông Văn Tiến Q để nhận số tiền cầm cố 38.500.000 đồng với thời hạn cầm cố là 24 tháng từ ngày 25/11/2022 đến ngày 25/11/2024. Theo nội dung thỏa thuận tại hợp đồng cầm cố, ông Văn Tiến Q cầm cố xe ô tô tải nêu trên để nhận số tiền 38.500.000 đồng với lãi suất thỏa thuận là 1.1%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% mức lãi suất cầm cố trong hạn được áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, thời hạn thanh toán tiền định kỳ hàng tháng (bao gồm nợ gốc và lãi trong hạn) với số tiền gốc mỗi kỳ là 1.339.102 đồng, trả vào ngày 25 hàng tháng từ tháng 12/2022 đến tháng 11/2025. Việc ký kết hợp đồng là trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự nên có hiệu lực đối với các bên đã tham gia giao dịch.

[6] Xét số tiền nợ gốc 35.821.794 đồng: Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn Công ty Cổ phần S có Ngay khởi kiện xác định số tiền nợ gốc là 41.946.470 đồng, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn xác định có sự nhầm lẫn trong việc đánh máy đối với yêu cầu khởi kiện và điều chỉnh số tiền nợ gốc còn lại là 35.821.794 đồng. HĐXX xét thấy, việc điều chỉnh số tiền nợ gốc giảm và phù hợp với nội dung tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên HĐXX chấp nhận việc điều chỉnh đối với số tiền nợ gốc của đại diện nguyên đơn và xác định số tiền nợ gốc ông Văn Tiến Q còn nợ là 35.821.794 đồng. Theo nội dung hợp đồng, ông Văn Tiến Q có nhận của Công ty TNHH S1 (Nay là Công ty Cổ phần S có Ngay) số tiền gốc là 38.500.000 đồng, quá trình thực hiện hợp đồng, ông Văn Tiến Q đã trả cho Công ty S số tiền nợ gốc là 2.678.205 đồng và đến ngày 25/02/2023 thì không trả nữa. Như vậy, ông Văn Tiến Q đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo nội dung cam kết tại Hợp đồng cầm cố số D2T221101020NA07X ngày 25/11/2022 được ông Văn Tiến Q ký kết với Công ty TNHH S1 (Nay là Công ty Cổ phần S có Ngay) và phụ lục hợp đồng cầm cố số D2T221101020NA07X ngày 25/11/2022. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng ông Văn Tiến Q vẫn không hợp tác và không cung cấp các tài liệu, chứng cứ thể hiện quá trình thanh toán nợ cho Công ty và không có thiện chí trong việc thanh toán nợ. Do đó, HĐXX căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xác định số tiền nợ gốc ông Văn Tiến Q còn nợ Công ty Cổ phần S có Ngay là 35.821.794 đồng là có cơ sở và phù hợp với Điều 4 của Hợp đồng cầm cố và các quy định của pháp luật tại các Điều 280, Điều 466 của Bộ luật dân sự để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[7] Đối số tiền lãi trong hạn là: 4.719.873,00 đồng, lãi quá hạn là 14.403.878,73 đồng: Tại Hợp đồng cầm cố số D2T221101020NA07X ngày 25/11/2022 giữa ông Văn Tiến Q và Công ty TNHH S1 kèm phụ lục hợp đồng cầm cố số D2T221101020NA07X ngày 25/11/2022 mức lãi suất thỏa thuận là 1.1%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% mức lãi suất cầm cố trong hạn được áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Căn cứ vào khoản 6 Điều 29 của Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định: “Tỷ lệ lãi suất cho vay tiền khi nhận cầm cố tài sản không vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự” và đối chiếu tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự quy định “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.” Việc thỏa thuận mức lãi suất, lãi suất quá hạn giữa nguyên đơn Công ty S với bị đơn ông Văn Tiến Q tại hợp đồng cầm cố là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S có Ngay về lãi trong hạn tính đến ngày 25/9/2024 với số tiền 4.719.873,00 đồng và lãi quá hạn là 14.403.878,73 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với tiền phí mượn xe là 23.100.000,00 đồng, HĐXX xét thấy: Sau khi ký kết Hợp đồng cầm cố số D2T221101020NA07X ngày 25/11/2022. Trong ngày 25/11/2022, do nhu cầu cần có xe để đi lại hàng ngày nên ông Văn Tiến Q có nhu cầu mượn lại xe sử dụng và được Công ty đồng ý. Trong giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ 25/11/2022 đến 25/12/2022 địa điểm trả xe là tại Chi Nhánh Đ1 01. Ông Văn Tiến Q có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe với nội dung: “hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”, tuy nhiên, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày 25/11/2022 đến ngày 25/12/2022, ông Văn Tiến Q không thực hiện việc trả xe cho Công ty là vi phạm cam kết tại giấy mượn xe nên ông Q phải chịu phí mượn xe 770.000 đồng/tháng. Sau khi mượn xe, ông Q đã sử dụng xe từ đó cho đến nay mà không trả lại xe và trả phí mượn xe đầy đủ cho Công ty S như thỏa thuận các bên đã ký trong giấy mượn xe. HĐXX xét thấy: Căn cứ Điều 314 BLDS năm 2015 quy định rằng: “1. Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó; 2. Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật; 3. Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu có thoả thuận; 4. Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản của bên cầm cố”. Việc các bên thỏa thuận cho mượn xe ô tô tải CMC VARICA màu trắng, mang BKS: 43C-269.57, số khung: 60F8085 - số ô tô tải: C12SC074098 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029639 do công an thành phố Đ, phòng C1 cấp ngày 19/10/2022 cho ông Văn Tiến Q khi đã cầm cố là phù hợp với quy định tại Điều 314 của Bộ luật Dân sự. Ông Văn Tiến Q đã vi phạm cam kết trong giấy mượn xe ngày 25/11/2022, nên yêu cầu buộc ông Văn Tiến Q phải trả phí khi mượn xe ô tô (tính từ ngày 25/02/2022 đến ngày 25/9/2024) là 23.100.000 đồng cho Công ty S là có căn cứ theo nhận định nêu trên nên được HĐXX chấp nhận.

[9] Xét yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản cầm cố: Căn cứ nội dung quy định tại Điều 314 Bộ luật Dân sự như đã nhận định nêu trên. Trong trường hợp ông Văn Tiến Q không trả tiền cho Công ty Cổ phần S có Ngay thì Công ty có quyền xử lý tài sản cầm cố để thu hồi nợ. Do vậy, HĐXX xét thấy tài sản cầm cố là ô tô tải CMC VARICA màu trắng, mang BKS: 43C-269.57, số khung: 60F8085 - số ô tô tải: C12SC074098 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029639 do công an thành phố Đ, phòng C1 cấp ngày 19/10/2022 cho ông Văn T Quỳnh cần được xử lý theo quy định tại Điều 299, điều 303; 304 Bộ luật dân sự năm 2015 theo yêu cầu của Công ty Cổ phần S có Ngay để xử lý theo quy định của pháp luật.

[10] Về hiện trạng xe: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với xe ô tô tải CMC VARICA màu trắng, mang BKS: 43C-269.57, số khung: 60F8085 - số ô tô tải: C12SC074098 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029639 do công an thành phố Đ, phòng C1 cấp ngày 19/10/2022 cho ông Văn Tiến Q, ông Văn Tiến Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông Văn Tiến Q không mang xe đến địa điểm, thời gian Tòa án đã ấn định. Do vậy, Tòa án không tiến hành xem xét, thẩm định đối với tài sản cầm cố, Tòa án căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029639 do công an thành phố Đ, phòng C1 cấp ngày 19/10/2022 cho ông Văn Tiến Q để xác định hiện trạng xe theo quy định của pháp luật.

[11] Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử đối với số tiền phí quản lý hồ sơ là 2.145.396 đồng. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định nêu trên của HĐXX nên HĐXX chấp nhận.

Từ những phân tích đã nêu trên, HĐXX có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay.

[12] Về án phí: Bị đơn ông Văn Tiến Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện và rút yêu cầu về phí quản lý hồ sơ nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[13] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng anh Q phải chịu. Công ty Cổ phần S có Ngay đã nộp và chi xong nên buộc ông Q phải trả lại cho Công ty.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Các điều 307, 309, 310, 311, 312, 313, 314, 315, 316, 468, 470 Bộ luật dân sự 2015
  • - Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

I/ Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay đối với ông Văn Tiến Q về phí quản lý hồ sơ số tiền 2.145.396 đồng (Hai triệu một trăm bốn mươi lăm ngàn ba trăm chín mươi sáu đồng)

II. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S Có Ngay đối với ông Văn Tiến Q về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và đòi tiền”.

1/ Xử: Buộc ông Văn Tiến Q phải trả cho Công ty cổ phần S Có Ngay (trước đây là Công ty TNHH S1) số tiền tính đến ngày 25/9/2024 là 78.045.546 đồng (Bảy mươi tám triệu không trăm bốn lăm ngàn năm trăm bốn mươi sáu đồng) trong đó: Nợ gốc: 35.821.794 đồng; Lãi trong hạn: 4.719.873 đồng; Lãi quá hạn: 14.403.878,73đ; P mượn xe: 23.100.000 đồng.

Kể từ ngày 26/9/2024, ông Văn Tiến Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc cầm cố chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố tài sản số: D2T221101020NA07X ngày 25/11/2022 được ký kết giữa ông Văn Tiến Q với Công ty cổ phần S Có Ngay (trước đây là Công ty TNHH S1) cho đến khi ông Văn Tiến Q thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp ông Văn Tiến Q trả hết nợ thì Công ty cổ phần S phải trả lại cho ông Văn T Quỳnh bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029639 do công an thành phố Đ, phòng C1 cấp ngày 19/10/2022 cho ông Văn Tiến Q.

2/ Về xử lý tài sản cầm cố: Trong trường hợp ông Văn Tiến Q không thanh toán được các khoản tiền nợ cầm cố nêu trên cho Công ty cổ phần S Có Ngay thì tài sản cầm cố là xe ô tô tải CMC VARICA màu trắng, mang BKS: 43C-269.57, số khung: 60F8085 - số ô tô tải: C12SC074098 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029639 do công an thành phố Đ, phòng C1 cấp ngày 19/10/2022 cho ông Văn Tiến Q theo hợp đồng cầm cố tài sản số: D2T221101020NA07X ngày 25/11/2022 được ký kết giữa ông Văn Tiến Q với Công ty cổ phần S Có Ngay (trước đây là Công ty TNHH S1 ) sẽ được xử lý theo quy định tại các điều 299, 303, 304 Bộ luật dân sự năm 2015.

III/ Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Văn Tiến Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 3.902.277 đồng (Ba triệu chín trăm lẻ hai nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng).

- Hoàn trả cho Công ty cổ phần S Có Ngay số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 1.682.875 đồng (Một triệu sáu trăm tám hai nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0001552 ngày 03/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

IV/ Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) ông Văn Tiến Q phải chịu. Công ty cổ phần S Có Ngay đã nộp tạm ứng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên ông Văn Tiến Q có trách nhiệm hoàn trả lại cho Công ty cổ phần S Có Ngay số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Trong trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

V/ Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng ông Văn Tiến Q vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKS ND quận Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Trương Thị Hai

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và đòi tiền

  • Số bản án: 90/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và đòi tiền
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty cổ phần SaWad tiền có Ng yêu cầu ông Văn Tiến Q trả số tiền 78.045.546 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger